vanban.org

Bản án 67/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Xử: 1.

Những người tham gia tố tụng; VKSND huyện Sóc Sơn; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Xử: 1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------
Bản án số: 67 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/12/2022.
Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hòa. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dƣơng Văn Xuyên.

2. Bà Nguyễn Thị Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 809/2022/TLST- HNGĐ ngày 24/11/2022, về việc: Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXX-ST ngày 08/12/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh 1989; hộ khẩu thường trú: Liên Xuân, Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội; hiện ở tại: Tiên Kha, Tiên Dương, Đông Anh, Hà Nội (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh 1989; hộ khẩu thường trú: Liên Xuân, Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trong trình bày:

Tôi kết hôn với anh Tỵ trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội vào ngày 17/3/2009. Trước khi kết chúng tôi có thời gian tìm hiểu và yêu thương nhau, được sự đồng ý của cả hai bên gia đình, chúng tôi đã tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau, hay to tiếng, cãi nhau, tình cảm vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 6/2021 cho đến nay, anh Tỵ đi chấp hành án với thời gian 04 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Trại giam Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội. Tôi có đến thăm anh Tỵ 01 lần và nói chuyện ly hôn. Đến nay tình cảm không còn, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Tỵ để ổn định cuộc sống. Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Anh, sinh ngày 13/01/2010 và cháu Nguyễn Minh Khôi, sinh ngày 08/11/2013. Hiện tại cháu đang ở với tôi tại nhà ông bà ngoại. Tôi đề nghị được nuôi 02 cháu và không yêu cầu anh Tỵ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết. * Bị đơn anh Tỵ trình bày: Tôi kết hôn với chị Trong trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội vào ngày 17/3/2009. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau, hay to tiếng, cãi nhau, tình cảm vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 6/2021 cho đến nay, tôi đi chấp hành án về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Trại giam Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội. Chị Trong có đến thăm tôi 01 lần và nói chuyện ly hôn. Tôi nhận thấy không còn tình cảm với chị Trong, tôi đồng ý ly hôn với chị Trong. Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Anh, sinh ngày 13/01/2010 và cháu Nguyễn Minh Khôi, sinh ngày 08/11/2013. Hiện tại cháu đang ở với mẹ tại nhà ông bà ngoại. Sau khi ly hôn tôi muốn nuôi 01 cháu, do tôi đang chấp hành án nên tòa án tạo điều kiện gặp bố mẹ tôi để tiếp nhận nuôi 01 cháu. Nếu tôi nuôi con tôi không yêu cầu chị Trong cấp dưỡng. Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết. * Ông Tha trình bày: Tôi là bố đẻ anh Tỵ, sinh 1989; hộ khẩu thường trú: Liên Xuân, Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội. Gia đình cũng tổ chức đám cưới cho anh Tỵ chị Trong, nay anh chị tự nguyện ly hôn thì đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Anh, sinh ngày 13/01/2010 và cháu Nguyễn Minh Khôi, sinh ngày 08/11/2013. Hiện tại các cháu đang ở với mẹ, tại nhà ông bà ngoại. Tôi không có ý kiến gì về việc nuôi con chung của anh chị, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chịu cả án phí. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị tòa án xem xét như sau: 1. Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trong và anh Tỵ. 2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Anh, sinh ngày 13/01/2010 và cháu Nguyễn Minh Khôi, sinh ngày 08/11/2013 cho chị Trần Thị Trong trực tiếp nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá đầy đủ, khách quan tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Tỵ có hộ khẩu thường trú tại Liên Xuân, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Hiện tại, anh Tỵ đang chấp hành án tại Trại giam Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội. Cho nên, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Anh Tỵ có đơn xin xét xử vắng mặt nên. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Anh Tỵ và chị Trong kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội vào ngày 17/3/2009 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau. Từ tháng 6/2021 cho đến nay, anh Tỵ đi chấp hành án với thời gian 04 năm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Trại giam Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội. Nay chị Trong xin ly hôn, anh Tỵ cũng đồng ý ly hôn nên tòa công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.

[3]. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Anh, sinh ngày 13/01/2010 và cháu Nguyễn Minh Khôi, sinh ngày 08/11/2013. Hiện tại các cháu đang ở với mẹ là chị Trong, tại nhà ông bà ngoại. Anh Tỵ có nguyện vọng nuôi 01 cháu là thể hiện trách nhiệm cũng như lo lắng cho chị Trong. Anh đề nghị tòa án đến làm việc với ông Tha là bố đẻ anh để xem xét giao con cho ông bà nội là chia sẽ gánh nặng trong việc nuôi dưỡng, lo ăn học với chị Trong. Tuy nhiên, ông Tha không có ý kiến gì, nên tòa không thể giao 01 cháu để giảm gánh nặng cho chị Trong được. Chị Trong tự nguyện nuôi 02 cháu là phù hợp nên tòa chấp nhận. Anh Tỵ đang chấp hành án không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con và chị Trong không có yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5]. Về án phí: Chị Trong tự nguyện chịu cả án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Xử: 1. Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T. 2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 13/01/2010 và cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 08/11/2013 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Anh T có quyền và nghĩa vụ được thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Chị Trong tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo biên lai số 0005587 ngày 24/11/2022. 5. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền bản án kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ