vanban.org

Bản án 67/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bờ Rông Thị Mỹ N đối với bị đơn anh Nguyễn Văn X về việc cấp dưỡng nuôi con. Buộc anh Nguyễn Văn X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020, với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2022
“V/v tranh chấp về cấp dưỡng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Nguyễn Thành Hiếu

2. Ông Trần Văn Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 446/2021/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2021, về việc: “Tranh chấp về cấp dưỡng”; theo quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử số 13/2022/QQĐ-GHXX ngày 04/5/2022 và quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75a/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bờ Rông Thị Mỹ N - sinh năm 2003 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn 1, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn X - sinh năm 1992 (có mặt) Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06/12/2021 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Bờ Rông Thị Mỹ N trình bày:

Năm 2019 chị và anh Nguyễn Văn X quen nhau, lợi dụng chị còn nhỏ anh X đã dụ dỗ quan hệ tình dục với chị làm chị có thai sinh con tên Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020. Sau đó anh X bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử tuyên phạt anh X 02 năm tù giam, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” hiện nay anh X đã chấp hành xong án phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Tuy Nên, anh X không thăm hỏi gì con và cũng không cấp dưỡng nuôi cháu Bờ Rông Thanh S. Nay chị khởi kiện yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020 mỗi tháng 5.000.000đ (năm triệu đồng) từ ngày 08/01/2020 đến khi cháu S đủ 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân.

*Bị đơn anh Nguyễn Văn X trình bày: Theo lời trình bày của chị N là đúng, anh xác định cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020 là con anh, anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu S mỗi tháng 5.000.000đ kể từ ngày 08/01/2020 đến khi cháu S đủ 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân mà chỉ đồng ý cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi cháu S đủ 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã Nều lần tổ chức phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau. Các đương sự đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75a/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2022 đã ghi quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về cấp dưỡng”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về cấp dưỡng” được quy định tại khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.

2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau:

2.1 Theo lời khai của chị Bờ Rông Thị Mỹ N và các tài liệu có tại hồ sơ thì chị Bờ Rông Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn X không phải là vợ chồng nhưng tại Bản kết luận giám định AND số 1333/C09B ngày 23/3/2020 của Viện khoa học hình sự phân viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020 (giới tính: Nam) có cha ruột là Nguyễn Văn X và mẹ ruột là Bờ Rông Thị Mỹ N trong vụ án Giao cấu đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi xảy ra tại xã La Dạ vào tháng 4 năm 2019. Hiện nay cháu S đang do chị N nuôi dưỡng. Nguyện vọng của chị Bờ Rông Thị N là mong muốn được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật với một khoản tiền hàng tháng là 5.000.000 đồng kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2020 cho đến khi cháu S trưởng thành 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân. Ngược lại, anh X trình bày anh không có việc làm ổn định nên chưa có điều kiện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ mà chỉ đồng ý cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ.

2.2 Về mức cấp dưỡng: Xét các tài liệu thu thập được, tuổi của con chung và hoàn cảnh sống của trẻ em trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở quy định của pháp luật Hội đồng xét xử thấy trách Nệm nuôi con là của chung cha và mẹ, do vậy cần buộc anh Nguyễn Văn X có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Tuy Nên, xét anh X mới ra tù chưa có công ăn việc làm ổn định cũng chưa có mức thu nhập cụ thể nên cần dựa vào mức thu nhập bình quân của lao động phổ thông trên địa bàn xã La Dạ để xem xét. Căn cứ vào mức thu nhập của hai bên đương sự trình bày, mức thu nhập lao động phổ thông trên địa bàn xã La Dạ là từ 4.500.000đ đến 6.000.000đồng/tháng/người và điều kiện tối thiểu, nhu cầu cần thiết để nuôi dưỡng cháu S trong xã hội hiện tại nên cần buộc anh X phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu S cho chị N mỗi tháng 2.500.000 đồng cho đến khi cháu S trưởng thành 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân. Do đó, một phần yêu cầu của chị N là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

2.3 Về thời gian cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên…” và “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên…”. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 20 và khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Như vậy, theo pháp luật hiện hành chỉ đề cập đến điểm kết thúc việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (như khi con đã thành niên là đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, có thu nhập để tự nuôi sống bản thân) mà không quy định khi nào thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020 nhưng đến ngày 06/12/2021 chị N nộp đơn khởi kiện đến Tòa án sau đó ngày 28/7/2022 Tòa xét xử tuyên án nên thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án 28/7/2022 là phù hợp. Do đó, chị Bờ Rông Thị Mỹ N yêu cầu anh X phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tính từ ngày 08/01/2020 và số tiền cấp dưỡng mỗi tháng 2.500.000đ còn lại là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn X phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị Bờ Rông Thị Mỹ N không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con đối với yêu cầu bị bác.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ:

- Khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 20, 24 Điều 3; các Điều 107, 110, 116, 117, 118, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2.Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bờ Rông Thị Mỹ N đối với bị đơn anh Nguyễn Văn X về việc cấp dưỡng nuôi con. Buộc anh Nguyễn Văn X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020, với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng từ ngày Tòa tuyên án 28/7/2022 cho đến khi cháu S đủ 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân.

- Bác yêu cầu khởi kiện của chị Bờ Rông Thị Mỹ N về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.500.000đ/tháng kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2020 cho đến khi cháu S trưởng thành 18 tuổi có khả năng lao động được hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Anh Nguyễn Văn X được quyền nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bờ Rông Thanh S – sinh ngày 08/01/2020 không ai được cản trở. Vì lợi ích của con các bên có quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3.Về án phí, lệ phí:

- Anh Nguyễn Văn X phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

- Chị Bờ Rông Thị Mỹ N không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ