vanban.org

Bản án 67/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị M.

Buộc chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị M số tiền hụi 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng.) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN G
Bản án số: 67/2022/DS-ST
Ngày: 29/7/2021
“V/v tranh chấp hợp đồng dân
sự về hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Dứt

2. Bà Phạm X Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An G tham gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ M xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 131/2022/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2022/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 321/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị M, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp Bình Phú, xã Bình Phước X, huyện Chợ M, tỉnh An G.

Người đại diện ủy quyền hợp pháp cho bà Phan Thị M: Chị Phan Thị Trang, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Bình Phú, xã Bình Phước X huyện Chợ M, tỉnh An G; là người đại diện theo ủy quyền; theo văn bản ủy quyền ngày 17/5/2022 được Ủy ban nhân dân xã Bình Phước X, huyện Chợ M chứng thực; có mặt.

2. Bị đơn: Chị Huỳnh Ngọc C (Cẩm Tú), sinh năm 1979; địa chỉ: ấp Bình Phú, xã Bình Phước X, huyện Chợ M, tỉnh An G; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị M ủy quyền cho chị Phan Thị Trang trình bày, do chỗ quen biết với chị C (Cẩm Tú) bà M có tham gia hụi do chị C làm chủ, số tiền chị C hưởng hoa hồng từ các hụi viên khi hốt. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở giá hụi cao nhất thì được hốt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho người hốt được và hưởng hoa hồng. Bà M tham gia 05 dây hụi như sau: 1/ Dây hụi thứ nhất: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 26.02.2020 (al), có 21 hụi viên, bà M tham gia 01 phần (trong dây hụi chủ hụi ghi tên Bác 2 Rin). Hụi khui đến lần thứ 09 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà M được hưởng với số tiền: 08 lần x 2.000.000 = 16.000.000 đồng. 2/ Dây hụi thứ hai: Hụi 1.000.000đ/tháng khui ngày 01.4.2020, có 15 hụi viên, bà M tham gia 01 phần (trong dây hụi chủ hụi ghi tên Bác 2 Rin) Hụi khui đến lần thứ 7 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà được hưởng với số tiền: 06 lần = 6.000.000 đồng. 3/ Dây hụi thứ ba: Cùng chung một ngày hụi 1.000.000đ/tháng khui ngày 01.4.2020, có 15 hụi viên, bà M tham gia 01 phần (trong dây hụi chủ hụi ghi tên Bác 2 Rin) Hụi khui đến lần thứ 7 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà M được hưởng với số tiền: 06 lần = 6.000.000 đồng. 4/ Dây hụi thứ tƣ: Hụi 1.000.000đ/tháng, khui ngày 25.4.2020 (al) hụi có 15 hụi viên, bà M tham gia 02 phần (trong dây hụi chủ hụi ghi tên Bác 2 Rin) Hụi khui đến lần thứ 8 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà M được hưởng với số tiền: 07 lần x 2.000.000 = 14.000.000 đồng. 5/ Dây hụi thứ năm: Cùng chung một ngày 25.4.2020 (al) Hụi 1.000.000đ/tháng, có 15 hụi viên, bà M tham gia 02 phần (trong dây hụi chủ hụi ghi tên Bác 2 Rin) Hụi khui đến lần thứ 8 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà M được hưởng với số tiền: 07 lần x 2.000.000 = 14.000.000 đồng. Chị C (Cẩm Tú) đã tuyên bố bể hụi vào ngày 10.10.2021 đến nay không giao dịch hụi nữa. Bà M đã nhiều lần đến nhà chị C (Cẩm Tú) đòi tiền nhưng không trả . Nay bà M yêu cầu chị Huỳnh Ngọc C (Tự Cẩm Tú) có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền nợ hụi trong 05 dây hụi mà bà đã chầu là 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng) không yêu cầu tính lãi suất . Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sồ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên (bản photo).

- Chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ nguyên đơn đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình công khai chứng cứ hòa giải vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Ý kiến giải quyết vụ án:

- Dây thứ nhất: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 26/02/2020 (âl), có 21 hụi viên, bà M tham gia 01 phần tên “Bác 2 Rin”. Hụi khui đến lần thứ 9 thì chị C tự ý ngưng hụi. Bà M được hưởng 8 lần chầu hụi là 16.000.000 đồng.

- Dây thứ hai: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 01/4/2020, có 15 hụi viên, bà M tham gia 01 phần tên “Bác 2 Rin”. Hụi khui đến lần thứ 7 thì chị C tự ý ngưng hụi. Bà M được hưởng 6 lần chầu hụi là 6.000.000 đồng.

- Dây thứ ba: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 01/4/2020, có 15 hụi viên, bà M tham gia 01 phần tên “Bác 2 Rin”. Hụi khui đến lần thứ 7 thì chị C tự ý ngưng hụi. Bà M được hưởng 6 lần chầu hụi là 6.000.000 đồng.

- Dây thứ tư: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/4/2020 (âl), có 15 hụi viên, bà M tham gia 02 phần tên “Bác 2 Rin”. Hụi khui đến lần thứ 8 thì chị C tự ý ngưng hụi. Bà M được hưởng 7 lần chầu hụi là 14.000.000 đồng.

- Dây thứ năm: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/4/2020 (âl), có 15 hụi viên, bà M tham gia 02 phần tên “Bác 2 Rin”. Hụi khui đến lần thứ 8 thì chị C tự ý ngưng hụi. Bà M được hưởng 7 lần chầu hụi là 14.000.000 đồng.

Yêu cầu chị C trả 56.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Phía chị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi nhận ý kiến.

Xét thấy, căn cứ bà M khởi kiện là 05 giấy hụi do chị C lập, thể hiện bà M có tham gia hụi với tư cách hụi viên cùng nhiều hụi viên khác. Ngoài ra, căn cứ vào các biên bản xác minh ngày 14/6/2022 do ông Phạm Công Khanh, bà Phan Thị Lùn, bà Nguyễn Thị Nga, bà Phan Thị Nghe trình bày có tham gia các dây hụi cùng với bà M do chị C làm chủ hụi; sau đó chị C đã tuyên bố vỡ hụi, tự ý ngưng hụi. Xét thấy, do chị C không thực hiện nghĩa chủ hụi, nên bà M yêu cầu chị C trả số tiền 56.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự và các Điều 18, 23 Nghị định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường. Do bà M không yêu cầu tính lãi suất, nên không đề cập đến. Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; các Điều 18, 23 Nghị định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị M đối với chị Huỳnh Ngọc C (Cẩm Tú).

- Buộc chị Huỳnh Ngọc C (Cẩm Tú) trả cho bà Phan Thị M số tiền 56.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phan Thị M khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) có nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi. Chị Ngọc C có nơi cư trú tại ấp Bình Phú, xã Bình phước X, huyện Chợ M, tỉnh An G. Tòa án nhân dân huyện Chợ M thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. * Về nội dung: [3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Qua lời khai và lời trình bày của chị Phan Thị Trang tại các biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định giữa bà M với chị C có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, không trái đạo đức xã hội, do chị C tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục nhưng chị C không trả số tiền hụi khi bà M có yêu cầu là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 để Hội đồng xét xử chấp nhận. Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà M cung cấp có danh sách hụi viên thể hiện trong 05 dây hụi được chị C ghi tên “Bác 2 Rin” Lời khai của bà Phan Thị Nghe, bà Phan Thị Lùn, Nguyễn Thị Nghe, ông Phạm Công Khanh là những người cùng với bà M tham gia các dây do chị C làm chủ thì cũng xác định bà M có tham gia chơi hụi và hiện nay chị C còn thiếu lại bà M tổng số tiền trong các dây hụi là 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng). Như vậy, lời khai của những người làm chứng phù hợp với danh sách hụi, mà bà M đã cung cấp cho Tòa án. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà M yêu cầu chị C có nghĩa vụ trả số tiền hụi 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng).

Về lãi suất: Tại phiên tòa bà Phan Thị M ủy quyền cho chị Phan Thị Trang không yêu cầu tính lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 282, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị M.

Buộc chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị M số tiền hụi 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng.)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Huỳnh Thị Ngọc C (Cẩm Tú) phải chịu 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm ngàn đồng).

3. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ