- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn đình th phạm tội trộm cắp sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2021/HSST Ngày: 06/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lữ Kim Hằng
2. Ông Lê Đức Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện huyện C, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2021/TLST - HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2021/QĐST - HS ngày 22 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình Th, sinh năm 1997 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim L, năm sinh: 1966 (còn sống) và bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh: 1970 (còn sống), gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con chưa có.
Tiền sự: Không
Tiền án: 01.
Ngày 28/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/3/2021 đến ngày 21/3/2021 bị tạm giam cho đến nay.
( bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
1. Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Nguyễn Hòa L, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Duy Nh, sinh năm 2001(vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Trần Tấn T, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
3. Ông Phạm T, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
4. Anh Trần Khắc H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng:
1. Anh Ngô Minh Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Th, xã H, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.
2. Chị Nguyễn Thị Thanh Ph, sinh năm 1987(vắng mặt).
Địa chỉ: Đội 3, ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 14/3/2021 Th cùng với Trần Tấn T, sinh năm 1997, thường trú ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai và Phạm Duy Nh, sinh năm 2001, thường trú ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai ngồi uống rượu ở góc bên hông cây xăng X thuộc ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Đến rạng sáng ngày 15/3/2021 (không xác định được thời gian), đang ngồi uống rượu thì hết thuốc lá hút nên Th mượn xe môtô biển số 60F4-6573 của Phạm Duy Nh đi về hướng ngã 3 C đi mua thuốc lá hút. Khi đi đến quán “Lối về” do anh Nguyễn Hòa L, sinh năm 1972, thường trú ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai làm chủ, thấy quán đóng cửa nên nảy sinh ý định trộm cắp. Th đẩy hàng rào quán bằng lưới B40 lẻn vào quán, khi vào bên trong quán rồi đi đến khu vực quầy tính tiền thì phát hiện có một tủ kính không khóa bên trong trưng bày nhiều chai rượu thấy 01 cái giỏ nhựa bên trong có 01 cái gắp đá và một số cái hộp quẹt ga, Th cầm giỏ nhựa tiến đến tủ kính lấy trộm 02 cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas 18; 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas 12; 09 chai rượu hiệu Vodka Men, 01 chai rượu rắn Phương Đông, 02 chai rượu nhân sâm bìm bịp rồi bỏ lên xe chở về chỗ Nh, T đang nhậu, Thắng khui 01 chai rượu nhân sâm bìm bịp để uống tiếp với Nh và T nhưng không nói rõ về nguồn gốc số tài sản mà Th trộm được cho Nh và T biết. Sau đó, Nh đi về trước nên Th lấy 01 chai rượu Chivas 12 đưa cho Nh.
Th và T ngồi uống thêm 01 lát thì Th đứng dậy đi vệ sinh thì nhìn thấy cửa cổng nhà anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1972, thường trú ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai không khóa và không người trông coi, Th lẻn đi vào bên trong thấy có 02 xe Mô tô gồm: 01 xe Airblade biển số 52N9-0814 và 01 Honda Wave, biển số 60B6-516.54 dựng bên trong sân, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, Th tiến đến, dắt chiếc xe Airblade ra cây xăng X gửi rồi tiếp tục quay lại lấy trộm chiếc xe Honda Wave đi ra chỗ Tài đang ngồi. Khi đến thì Tài không còn ở đó nên Th chất số rượu trộm được trước đó lên xe và đem về nhà cất giấu. Sau khi cất rượu xong, Th điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển số 60B6-516.54 quay lại chỗ cây xăng X thì bị lực lượng Công an xã X phát hiện truy đuổi, Thắng bỏ lại xe để tẩu thoát rồi đi về nhà ngủ, đến 08 giờ 30 phút sáng ngày 15/3/2021, Th bị lực lượng Công an huyện C bắt giữ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐG ngày 19/03/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas Regal 18 loại 700ml có giá trị là 1.800.000 đồng; 01 chai rượu Chivas Regal 12 loại 700ml có giá trị 700.000 đồng; 01 chai rượu rắn Phương Đông loại 500ml có giá trị là 80.000 đồng; 01 chai rượu nhãn hiệu nhân sâm bìm bịp loại 500ml có giá trị 80.000 đồng; 09 chai rượu vodka men loại 300ml có giá trị 09 chai x 80.000 đồng/chai = 720.000 đồng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven có giá trị 400.000 đồng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 có giá trị 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 4.280.000đ (bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐG ngày 19/03/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số: 52N9-0814 mua năm 2014 có giá trị là 3.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 60B6-516.54 mua năm 2017 có giá trị là 12.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG ngày 07/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ, kết luận: 01 cái dụng cụ gắp đá có giá trị là 22.000 đồng; 20 cái hộp quẹt gas còn nguyên tem có giá trị là 40.000 đồng; 08 chai rượu rắn Phương Đông và rượu nhân sâm bìm bịp mỗi chai 500 ml có giá trị là 80.000 đồng/chai x chai = 640.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 702.000đ (bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).
* Vật chứng vụ án:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số: 60B6-516.54, quá trình điều tra xác minh xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Minh Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
+ 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas 18 loại 700ml; 01 chai rượu Chivas 12 loại 700ml; 01 chai rượu rắn nhãn hiệu Ph; 01 chai rượu nhãn hiệu nhân sâm bìm bịp loại 500ml; 09 chai rượu Vodka men loại 300ml; 01 cây kẹp gắp đá; 20 cái hộp quẹt gas và 01 cái giỏ nhựa đã cũ, không còn giá trị sử dụng, đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hòa Long.
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu cam đen, biển số 52N9-0814: Anh Q khai nhận đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy mua bán xe. Kết quả tra cứu không tìm thấy dữ liệu đối với xe 52N9-0814. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
+ Đối với 02 cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 hiện không thu hồi được.
+ Đối với 01 chai rượu nhãn hiệu nhân sâm bìm bịp loại 500ml Thắng đã khui và uống hết, sau đó vứt vỏ chai nên không thu hồi được.
+ Đối với xe mô tô biển số 60F4-6573, quá trình điều tra xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Phạm T, sinh năm 1964, thường trú ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT không thu giữ.
* Về trách nhiệm dân sự:
+ Anh Nguyễn Hòa L đã nhận lại tài sản gồm 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas 18 loại 700ml; 01 chai rượu Chivas 12 loại 700ml; 01 chai rượu rắn nhãn hiệu Phương Đông; 01 chai rượu nhãn hiệu nhân sâm bìm bịp; 09 chai rượu Vodka men; cây kẹp gắp đá; 20 cái hộp quẹt gas và 01 cái giỏ nhựa đã cũ, không còn giá trị sử dụng. Đối với số tài sản còn lại gồm 02 cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu 555; 08 chai rượu nhân sâm bìm bịp và rượu rắn Phương Đông, anh L không yêu cầu Nguyễn Đình Th phải bồi thường.
+ Anh Nguyễn Minh Q đã nhận lại xe 60B6-516.54, đề nghị Cơ quan CSĐT xác minh làm rõ nguồn gốc xe 52N9-0814, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số: 59/CT- VKS – CM ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Đình Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Th về tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần, thuộc trường hợp tái phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Th mức án: từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
* Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Hòa L và anh Nguyễn Minh Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị không xem xét.
+ Đối với Phạm Duy Nh và Trần Tấn T, khi Th mang số rượu trên về chỗ nhậu và cho Nhật 01 chai rượu Chivas 12, Nh và T không biết đây là tài sản do Th phạm tội mà có nên không phạm tội.
+ Đối với 07 chai rượu nhân sâm bìm bịp và rượu rắn Phương Đông Nguyễn Đình Th không thừa nhận đã lấy trộm, anh Nguyễn Hòa L không yêu cầu bồi thường và không có chứng cứ nào khác để chứng minh Th đã lấy trộm nên không đủ cơ sở xử lý.
+ Đối với Trần Khắc H khi bị cáo Th gửi tài sản tại cây xăng thì anh H không biết tài sản do Th phạm tội mà có nên không phạm tội
*Vật chứng vụ án:
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu cam đen, biển số 52N9-0814: Anh Q khai nhận đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy mua bán xe. Kết quả tra cứu không tìm thấy dữ liệu đối với xe 52N9-0814. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Các vật chứng khác trong vụ án đã xử lý xong nên đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Phần tranh luận bị cáo trình bày không có ý kiến gì về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận: Khoảng 01 giờ sáng ngày 15/3/2021, tại quán “Lối về” thuộc ấp C, xã X, huyện C, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm: 02 cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas 18; 01 chai rượu nhãn hiệu Chivas 12; 09 chai rượu hiệu Vodka Men, 01 chai rượu rắn Phương Đông, 02 chai rượu nhân sâm bìm bịp; 01 cây kẹp gắp đá; 20 cái hộp quẹt gas của anh Nguyễn Hòa L và 01 xe môtô biển số 52N9- 0814 và 01 xe môtô biển số 60B6- 516.54 của anh Nguyễn Minh Q. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 19.422.000đ (mười chín triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 59 ngày 27/05/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là một công dân có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà bị cáo vẫn bất chấp pháp luật và đã lợi dụng sự sơ hở, vắng mặt của chủ sở hữu tài sản có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích đáng lẽ sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải lấy đó làm bài học để tu trí làm ăn, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục đi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp gây thiệt hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.
Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2021, chưa được xóa án tích. Ngày 15/3/2021, bị cáo tiếp tục trộm cắp tài sản của anh Q và anh L, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên và thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định đánh giá nêu trên xét cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo Th ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hòa L và anh Nguyễn Minh Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu cam đen, biển số 52N9-0814: Anh Q khai nhận đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy mua bán xe. Kết quả tra cứu không tìm thấy dữ liệu đối với xe 52N9-0814. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Các vật chứng khác trong vụ án đã xử lý xong nên không xem xét
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các vấn đề khác:
+ Đối với Phạm Duy Nh và Trần Tấn T, khi bị cáo mang số rượu trên về chỗ nhậu và cho Nh 01 chai rượu Chivas 12, Nh và T không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội.
+ Đối với 07 chai rượu nhân sâm bìm bịp và rượu rắn Phương Đông Nguyễn Đình Th không thừa nhận đã lấy trộm, anh Nguyễn Hòa L không yêu cầu bồi thường và không có chứng cứ nào khác để chứng minh Thắng đã lấy trộm nên không đủ cơ sở xử lý.
+ Đối với Trần Khắc H khi bị cáo Th gửi tài sản tại cây xăng thì anh H không biết tài sản do Th phạm tội mà có nên không phạm tội
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên xem xét ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình Th: 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 3 năm 2021.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15(mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKS tỉnh Đồng Nai; - STP tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện C; - VKS huyện C; - THA.DS huyện C; - THA hình sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký và đóng dấu) Lê Thị Khuyên |