- Tranh chấp gì? án hình sự — "CHẾ VĂN T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (điều 13…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2021/HS-ST Ngày 24-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Minh Tân
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Vương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 24 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 69/TB-TA ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chế Văn T (tên gọi khác: T. L), sinh ngày 25-01-1984 tại Quảng Ngãi. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 8, phường N, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, nơi thường trú: Tổ 4, phường C, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chế Văn H (chết) và bà Hoàng Thị Minh X; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2008, bị Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Quảng Ngãi áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm T20 Quảng Ngãi; ngày 26/7/2013 và ngày 26/7/2019 bị Công an phường N và Công an phường L, thành phố Quảng Ngãi xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giam ngày 29-01-2021, có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Minh D (D. C), sinh năm 1972, địa chỉ: Tổ 1 phường N, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Tạ Ngọc T, sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ 8, phường N, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Anh Lê Tấn P sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 ngày 29-10-2020, do nghi ngờ Chế Văn T bắt trộm con chó cảnh, nên Phạm Minh D đến quán game bắn cá T ở địa chỉ số 103 Trần Quang D thuộc tổ 7, phường N, thành phố Quảng Ngãi tìm T với mục đích đòi lại con chó cảnh. Đến nơi, D nhìn thấy T đang ngồi uống cà phê trước sân quán với Lê Tấn P và một số thanh niên khác gồm: B, H, G, T (không rõ lai lịch) nên D lấy trong cốp xe 01 cây dũ ba khúc đi đến chỗ T ngồi. Thấy vậy, T bỏ chạy và nhìn thấy cây rựa ở góc sân quán T nên cầm rựa và quay lại xông vào D. Thạch dùng hai tay cầm rựa chém một nhát theo hướng ngang, từ phải qua trái, đồng thời D cũng dùng hai tay cầm cây dũ ba khúc đưa lên để đánh T. Nhát chém của T trúng vào vị trí hai tay của D nắm trên cây dũ ba khúc, làm đứt lìa ngón cái, ngón trỏ và đứt một phần ngón giữa của bàn tay phải; đứt lìa ngón út của bàn tay trái. D rơi cây dũ ba khúc xuống đất thì T dùng hai tay cầm rựa, ôm D từ phía sau, tư thế cả hai đang đứng, lưỡi rựa của T hướng vào bụng của D. D dùng bàn tay trái áp vào lưỡi rựa để đẩy ra ngoài gây ra vết cắt ở mu – gang bàn tay trái. Sau đó, T và D ôm vật nhau ngã xuống đất và lăn ra gần cổng quán thì được P, T và những người có mặt can ngăn, đưa D đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi. T bỏ rựa lại quán và đi về nhà. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khám nghiệm hiện trường và thu giữ 01 cây rựa dài 59cm, phần lưỡi rựa bằng kim loại dài 29,5cm, cán rựa bằng gỗ 29,5cm, có máu, trên cây rựa có bám dính chất nâu đỏ.
Quá trình điều tra, người bị hại Phạm Minh D khai: Ngày 29-10-2020, Chế Văn T dùng rựa chém D 02 nhát. Nhát thứ nhất: T dùng hai tay cầm rựa chém theo hướng ngang, từ phải qua trái (của T) đồng thời D dùng tay phải cầm cây dũ ba khúc đưa lên thì lưỡi rựa chém trúng vào bàn tay phải, gây đứt lìa ngón cái, ngón trỏ và đứt một phần ngón giữa của bàn tay phải. Nhát thứ hai: Khi T và D ôm vật nhau thì T đứng lên được, dùng tay phải cầm rựa chém một nhát theo hướng xiên chéo từ trên xuống, D đưa tay trái lên đỡ thì trúng ngón út làm đứt lìa ngón út. Lời khai của người bị hại mâu thuẫn với lời khai của bị can, người làm chứng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập Phạm Minh D để đối chất, tiến hành thực nghiệm điều tra nhưng D không chấp hành và qua xác minh D không có mặt tại địa phương. Tại phiên tòa, bị hại Phạm Minh D khai, trong quá trình điều tra do bị hại thấy bị đứt 3 ngón tay nên bị hại khai bị cáo D chém bị hại 02 nhát, sau khi làm việc xong với cơ quan điều tra về, bị hại thường xuyên đi chữa trị vết thương nên không có mặt tại địa phương, nay bị hại xác định bị cáo chỉ chém bị hại 01 nhát, nhưng do bị hại cầm cây dũ ba khúc bằng hai tay nên bị đứt lìa ba ngón tay. Bị hại đồng ý với kết luận giám định pháp y về thương tích của bị cáo; xác định bị hại cũng có một phần lỗi khi dùng dũ ba khúc ngang nhiên xông vào đánh bị cáo và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại kết luận giám định số 277/TgT ngày 19-11-2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Ngãi xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Minh D là 27%, phù hợp vật sắc gây thương tích.
Về phần dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và bị cáo tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại cho bị hại là 80.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chế Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.
Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của người làm chứng không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Chế Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai tại phiên tòa của bị hại, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 ngày 29-10-2020, Phạm Minh D đến quán game bắn cá T tìm Chế Văn T mục đích đòi lại con chó cảnh. Khi đến quán T, D cầm 01 cây dũ ba khúc đi đến chỗ T ngồi. T bỏ chạy và nhìn thấy cây rựa ở góc sân quán T nên cầm rựa và quay lại xông vào D. T dùng hai tay cầm rựa chém một nhát theo hướng ngang, từ phải qua trái, đồng thời D cũng dùng hai tay cầm cây dũ ba khúc đưa lên để đánh T. Nhát chém của T trúng vào vị trí hai tay của D nắm trên cây dũ ba khúc, làm đứt lìa ngón cái, ngón trỏ và đứt một phần ngón giữa của bàn tay phải; đứt lìa ngón út của bàn tay trái. Drơi cây dũ ba khúc xuống đất thì T dùng hai tay cầm rựa, ôm D từ phía sau, tư thế cả hai đang đứng, lưỡi rựa của T hướng vào bụng của D. Ddùng bàn tay trái áp vào lưỡi rựa để đẩy ra ngoài gây ra vết cắt ở mu – gang bàn tay trái. Hậu quả làm anh Phạm Minh D bị thương tích 27%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 26-4-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo là có căn cứ.
Tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2008 bị Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Quảng Ngãi áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc; năm 2013 và năm 2019 bị Công an phường N và Công an phường L, thành phố Quảng Ngãi xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; tác động gia đình nộp số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại; cha mẹ bị cáo là người có công cách mạng và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, nguyên nhân xảy ra vụ án là do người bị hại cũng có một phần lỗi. Nên, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và bị cáo thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền là 80.000.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 30.000.000 đồng (số tiền này Công an thành phố Quảng Ngãi đã chuyển vào tài khoản: 3949.0.1075855.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi mở tại Kho bạc nhà nước Quảng Ngãi theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 11-8-2021), nên được khấu trừ, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cây rựa dài 59cm, phần lưỡi rựa bằng kim loại dài 29,5cm, cán rựa bằng gỗ 29,5cm, có mấu. Xét đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với cây dũ ba khúc bị hại mang theo để tìm đánh bị cáo, bị hại khai khi bị thương tích mọi người đưa bị hại đi cấp cứu, cây dũ ba khúc ở đâu bị hại không biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với số tiền 30.000.000 đồng bị cáo tác động gia đình nộp để bồi thường thiệt hại cho bị hại (số tiền này Công an thành phố Quảng Ngãi đã chuyển vào tài khoản: 3949.0.1075855.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi mở tại Kho bạc nhà nước Quảng Ngãi theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 11-8-2021) nên giao cho bị hại Phạm Minh D.
Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về phần hình phạt, xét thấy tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn, tự nguyện thỏa thuận với bị hại về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đồng thời nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là xuất phát từ một phần lỗi của bị hại, nên xử phạt bị cáo mức án thấp hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Điều 106, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Điều 585; Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Chế Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Xử phạt: Bị cáo Chế Văn T 2 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 29-01-2021).
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Chế Văn T và bị hại Phạm Minh D, bị cáo Chế Văn T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Phạm Minh D số tiền 80.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp trước 30.000.000 đồng (tại giai đoạn điều tra), còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Phạm Minh D 50.000.000 đồng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa dài 59cm, phần lưỡi rựa bằng kim loại dài 29,5cm, cán rựa bằng gỗ 29,5cm, có mấu.
Giao số tiền 30.000.000 đồng (số tiền này bị cáo Chế Văn T nộp tại giai đoạn điều tra và Công an thành phố Quảng Ngãi đã chuyển vào tài khoản: 3949.0.1075855.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi mở tại Kho bạc nhà nước Quảng Ngãi theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 11-8-2021) cho bị hại Phạm Minh D.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 03-8-2021 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Chế Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND Tp. Quảng Ngãi; - Chi cục THADS Tp. Quảng Ngãi; - Cơ quan CSĐT CATP Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS CATP Quảng Ngãi; - Bộ phận HSNV CATP Quảng Ngãi; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Như |