vanban.org

Bản án 67/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 11/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Về xử lý vật chứng: Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội của bi ̣ cáo là 2.408.000đ (hai triê ̣u bốn trăm không tám nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 3.200.000đ theo biên lai số AA/2011/01588 ngày 29/4/2021 tại Cục thi hành án dân sư tỉnh Cao Bằng, hoàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn N - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/HS-ST
Ngày 11-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Hà Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Văn Hữu

Ông Lâm Ngọc Thạch

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Vinh Thi ̣nh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Linh Đứ c Hợp, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn N, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1994 tại xa T, huyê ̣̃

n H, tinh Cao Bẳ

̀ng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm B, xã T, huyê ̣n H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; trình độ văn hoá: lớp 6/12 phổ thông; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn V, sinh năm 1969 và bà Thẩm Thi ̣ N, sinh năm 1970; vợ là Nông Thi ̣ T1, sinh năm 1997; con: Không; có 02 anh em, bi ̣ cáo là con cả; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/10/2020 đến nay, hiê ̣n đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Tra ̣i ta ̣m giam Công an tinh Cao Bẳ

̀ng ; Có mặt.

- Ngườ i bà o chữa cho bi ̣ cá o: Ông Triê ̣u Bằng Giang, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nướ c tinh Cao Bẳ

̀ng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nông Thi ̣ T1, sinh năm 1997

Trú ta ̣i: B, T, H, Cao Bằng. Có mặt.

2. Nông Văn C, sinh năm 2003

Trú ta ̣i: B, T, H, Cao Bằng. Có mặt.

3. Hoàng Nông M, sinh năm 2004

Trú ta ̣i: B, T, H, Cao Bằng. Có mặt.

4. Nông Ngo ̣c C1, sinh năm 2005

Trú ta ̣i: H1, T, H, Cao Bằng. Có mặt.

5. H2, sinh năm 2004

Trú ta ̣i: Đ-T, H, Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

- Ngườ i đại diện theo phá p luật:

1. Ông Nông Văn D

Bà Hoàng Thi ̣ H5

Cùng trú tại: B, T, H, Cao Bằng. Có mặt.

2. Bà Chu Thi ̣ T2

Trú ta ̣i: H1, T, H, Cao Bằng. Có mặt.

3. Ông Nông Văn T3

Trú ta ̣i: Đ-T, H, Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng:

1. Lê Thi ̣ Mai H3, sinh năm 1997

Trú ta ̣i: B1, H4, T4, T5; vắng mă ̣t.

2. Phàn Tà M1, sinh năm 2002

Trú ta ̣i: N1, A, B2, L; vắng mă ̣t.

3. Trần Thi ̣ Minh T6, sinh năm 1993

Trú ta ̣i: T7, N2, thi ̣ xa H6, K; vẵ

́ng mă ̣t.

4. Nguyễn Thi ̣ H7, sinh năm 1997

Trú ta ̣i: 26x/1x/4x đường Đ, phườ ng T8, Qx, TP.Y; vắng mă ̣t.

5. Nguyễn Thi ̣ Kim N3, sinh năm 1991

́

Trú ta ̣i: Âp L1, L2, B3, L2; vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 24/10/2020, tổ công tác Công an huyê ̣n H làm nhiê ̣m vu ̣ ta ̣i N4, xa T, huyê ̣̃

n H phát hiện Nông Văn C sinh năm 2003, trú ta ̣i B, T, H điều khiển xe mô tô hiê ̣u Honda Wave màu sơn xám biển kiểm soát 11G1 – 015.33 chở Trần Thị Minh T6 sinh năm 1993, trú ta ̣i thi ̣ xã H6, tỉnh K; Hoàng Nông M sinh năm 2004, trú ta ̣i B, T, H điều khiển xe mô tô Honda Winner X màu sơn đỏ biển kiểm soát 11B1 - 448.xx chở Nguyễn Thị H7 sinh năm 1997, trú ta ̣i Q9 thành phố Y; Nông Ngo ̣c C1 sinh năm 2001, trú ta ̣i xóm H1, T, H điều khiển xe mô tô hiê ̣u Honda Wave màu sơn đen BKS 11U1-169.xx chở Nguyễn Thi ̣ Kim N3 sinh năm 2001, trú ta ̣i B3, tỉnh L2 hướ ng vào khu vực biên giới để xuất C1 trái phép sang Trung Quốc. Các đối tượng C, M, C1 khai nhâ ̣n được Nông Văn N sinh năm 1994, trú ta ̣i B, T, H nhờ chở người đi vào bai đẫ ́t trống gần mốc 892 thi thả ngườ i

̀ xuống, khi nhom ngươi trên đang di chuyển đến xom N4, gần Ủ y ban xa T thi bi ̣

́

̀

́

̃

̀ phát hiê ̣n ngăn chă ̣n.

Mở rô ̣ng điều tra vu ̣ án đa xã ́c đi ̣nh được như sau: Khoàng tháng 6/2020, N quen biết mô ̣t ngườ i đàn ông quê ở B3 (không rõ ho ̣ tên, đi ̣a chỉ cu ̣ thể), ngườ i này sử du ̣ng nick facebook là “Cu Bin” để kết ba ̣n vớ i N qua nick facebook “Nông N”, hai ngườ i thườ ng xuyên nhắn tin cho nhau. Đến ngày 20/10/2020, “Cu Bin” go ̣i qua ứ ng du ̣ng facebook nhờ N đón 03 ngườ i ở nhà nghỉ Hoa Hồng ta ̣i thi ̣ trấn T9 đưa đến khu vực mốc 892 để vượt biên giớ i trái phép sang Trung Quốc vớ i giá 300CNY/ngườ i, N se nhâ ̣̃

n tiền vớ i ngườ i đón, N đồng ý và go ̣i điê ̣n cho C, M đến giúp chờ ngườ i, nhưng N không nói cho C, M biết là chở ngườ i để xuất C1 trái phép, N cũng không nói se trã ̉ tiền công cho ho ̣. Khoảng 18 giờ cùng ngày N, M, C điều khiển mỗi ngườ i mô ̣t xe mô tô chở theo mỗi xe mô ̣t ngườ i đưa vào bai đẫ

́t trống gần cô ̣t mốc 892, sau đó C và M quay xe về, N đợi đến khoảng 20 giờ cùng ngày thi có mô ̣t ngườ i đàn ông không rõ lai li ̣ch đến đón và đưa cho N 900CNY

̀ (nhân dân tê ̣) như thỏa thuâ ̣n trướ c đó vớ i “Cu Bin”, khi về nhà N đa đưa cho C vã

̀ M mỗi ngườ i 100CNY, phần N được hưở ng lợi 700CNY. Tiếp đó, khoảng 12 giờ ngày 24/10/2020, “Cu Bin” sử du ̣ng số điê ̣n thoa ̣i 0393 460 xxx go ̣i và gử i tin nhắn hinh ảnh 02 ngườ i phu ̣ nữ qua ứ ng du ̣ng facebook cho N, kèm theo 02 số điê ̣n thoa ̣i ̀ của ngườ i đi và nhắn đón 05 ngườ i cũng vớ i giá 300CNY/ngườ i, N đồng ý nhưng do không chở được hết, nên N đa chuyển tiếp tin nhẵ

́n hinh ảnh và bảo C đi đón (C

̀ là nhân viên làm thuê ta ̣i quán của N), sau đó C go ̣i cho M cùng đi chở ngườ i giúp N, khi hai ngườ i đi lên đến quán nướ c “Không tên” ở ca ̣nh chợ huyê ̣n H thi thấy có

̀ 03 ngườ i phu ̣ nữ không biết tên, nên C bảo M go ̣i thêm Nông Ngo ̣c C1 để giúp; đồng thờ i C chở M về phòng tro ̣ để mượn xe máy của H2 sinh năm 2004, trú ta ̣i Đ-T, H. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi C, M, C1 đón được 03 ngườ i ta ̣i quán “Không tên” và chở đến xóm N4, xa T thĩ

xe C bi ̣ hỏng, C go ̣i điê ̣n báo cho N biết, khi N

̀ vưa đi xe may xuống đến gần Ủ y ban xa T nơi C, M, C1 va ba ngươi phu ̣ nư đang ̀

́

̃

̀

̀

̃ đợi thi bi ̣ phát hiê ̣n bắt quả tang. Ta ̣i thờ i điểm đó còn có 02 phu ̣ nữ là Phàn Tả

̀ Mẩy, trú ta ̣i A, huyê ̣n B2, tinh L và Lê Thi ̣ Mai H3, trú ta ̣i H4, T4, T5 đang chờ ta ̣i

̉ chợ huyê ̣n H để N đón vào khu vực biên giớ i để xuất C1 trái phép sang Trung Quốc nhưng vu ̣ viê ̣c đa bi ̣̃ phát hiê ̣n ngăn chă ̣n.

Hành vi của Nông Văn N đã bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nông Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai: C, M đều khai được N thuê chở người vào khu vực đất trống thuộc xóm H1 xã T huyện H, cách mốc 892 khoảng 2 km, C và M được chở hai lần, C1 được tham gia lần thứ hai. Lần đầu ngày 20/10/2020 lần hai ngày 24/10/2020 đang trên đường đi đến trụ sở UBND xã T thì bị cơ quan công an phát hiện và bắt quả tang, khi chở người thì không được N cho biết chở đi đâu, không được bàn bạc về giá cả, không biết việc N bàn bạc trao đổi với người có ních facebook “cubin” về việc tổ chức đưa người xuất C1 trái phép và khi tham gia chở người chỉ xác định là đi xe ôm, lần đầu chở người khi quay về được N đưa cho 100 đồng tiền Nhân dân tệ, lần thứ hai (lần đầu của C1) chưa đưa được đến nơi cần đến, chưa được trả tiền công. Tại phiên tòa C và M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại điện thoại di động đang bị tạm giữ, C1 đề nghị được trả lại xe mô tô Honda Wave BKS 11U1-169.xx và điện thoại di động đang bị tạm giữ.

Ngày 13-5-2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ra Cáo trạng số: 64/CTr-VKSCB(P1) truy tố Nông Văn N về tội “Tổ chức cho người khác xuất C1 trái phép” theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Điểm b, c khoản 2 khoản Điều 348 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép thì bị phạt tù từ 01 năm ến 05 năm”;

“2. Phạm tội không thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm”.

a)...;

b) Phạm tội hai lần trở lên;

c) Đối vớ i từ 05 ngườ i đến 10 ngườ i;

...”.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo khẳng định quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nông Văn N về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nông Văn N về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nông Văn N phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội, đề nghị áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 5 đến 6 năm tù;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội của Nông Văn N là 700 đồng nhân dân tệ.

- Tịch thu phát ma ̣i sung công quỹ 01 ĐTDĐ hiê ̣u OPPO A92 màu xanh dương trắng, màn hinh cảm ứ ng đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave

̀ màu sơn xám đen bạc, BKS 11G1-015.xx là công cụ phương tiện của bị cáo để C sử dụng thực hiện vào mục đích phạm tội.

- Trả lại cho Nông Thị T1, trú tại: B, T, H, Cao Bằng 01 xe mô tô Honda Winer X BKS: 11B1 430.xx màu sơn đỏ đen là tài sản chung của vợ chồng Nông Văn N, chị T1 không biết việc N sử dụng chiếc xe trên vào mục đích phạm tội.

- Trả la ̣i cho Nông Văn C 01 ĐTDĐ OPPO F9 màu xanh phỉ thúy, dạng màn hình cảm ứng, máy đã qua sử dụng mặt sau của máy vỡ một mảng gần camera sau vi không liên quan đến việc phạm tội.

- Trả la ̣i cho Nông Ngo ̣c C1 01 xe mô tô Honda Wave màu sơn đen, BKS: 11U1-169.xx; 01 ĐTDĐ OPPO F9 màu đen da ̣ng cảm ứ ng, vì không liên quan đến việc phạm tội.

- Trả la ̣i cho Hoàng Nông M 01 ĐTDĐ OPPO A3S màu xanh đen da ̣ng màn hinh cảm ứ ng, máy đã qua sử dụng màn hình có nhiều vết xước vì không liên quan ̀ đến sự việc phạm tội.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chưa cho bị cáo: Ông Triệu Bằng Giang, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng trình bầy luận cứ bào chữa với nội dung: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị báo vì bị cáo phạm tội chưa đạt, tự thú về hành vi phạm tội trước đó, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn ăn năn hối cải, có ý thức nộp lại số tiền do phạm tội mà có.

Bị cáo Nông Văn N không bào chữa bổ xung.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận, có ý kiến xác nhận Cáo trạng đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Nông Văn N và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Nông Văn N hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận: Ngày 20 và ngày 24/10/2020 Nông Văn N đa 02 lẫ

̀n thực hiê ̣n hành vi tổ chức cho ngườ i khác xuất C1 trái phép. Cu ̣ thể: ngày 20/10/2020 đón 03 ngườ i từ nhà nghỉ Hoa Hồng ở thị trấn T9, huyê ̣n H đưa vào khu vực mốc 892 thuô ̣c xa T, huyê ̣̃

n H giao cho mô ̣t người đàn ông và nhâ ̣n số tiền 900CNY, sau khi trả tiền công cho C và M thi N còn được hưở ng 700CNY. Lần thứ hai: ngày

̀ 24/10/2020, N tiếp tu ̣c chở C, M, C1 đón 03 ngườ i ở thi ̣ trấn T9 đưa vào khu vực mốc 892 để xuất C1 trái phép, sau đó sẽ quay la ̣i đón thêm 02 ngườ i đang chờ ở thị trấn T9, huyê ̣n H, nhưng khi nhóm ngườ i trên đang trên đườ ng đưa 03 phu ̣ nữ đi trướ c đến khu vực xóm N4, xa T, huyê ̣̃

n H thì bi ̣ phát hiện bắt quả tang, sau đó 02 phu ̣ nữ còn la ̣i cũng được mờ i đến Công an huyê ̣n để xác minh làm rõ vu ̣ viê ̣c.

Hành vi đưa người xuất C1 trái phép sang Trung Quốc của Nông Văn N đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất C1, gây ảnh hưởng xấu đến công tác bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền an ninh biên giới, làm tăng nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh COVID-19 từ bên ngoài vào Việt Nam. Khi thực hiện hành vi phạm tội, Nông Văn N có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ phạm tội là nhằm mục đích vụ lợi từ việc chở thuê người đến mốc 892, giúp họ xuất C1 trái phép sang Trung Quốc để nhận tiền công. Hành vi của bị cáo Nông Văn N đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” thuộc các trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với từ 05 người đến 10 người” quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nông Văn N chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội khác trước đó mà chưa bị phát hiện khi đưa 03 người xuất cảnh trái phép vào ngày 20-10-2020 “người phạm tội tự thú”, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trước khi bị đưa ra xét xử, bị cáo và gia đình đã chủ động nộp lại số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã được phát hiện ngăn chặn kịp thời, lần thứ hai thực hiện tội phạm bị cáo chưa đưa được người đến địa điểm thỏa thuận và nhận tiền công, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhưng cũng cần lên một mức án tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của hành vi nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Mức hình phạt do Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, Hội đồng xét xử thấy bị cáo được hưởng lợi từ hành vi phạm tội số tiền không lớn, nên không cần thiết áp dụng một trong các mức hình phạt bổ sung trên đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Truy thu số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có của Nông Văn N là 700 đồng nhân dân tệ tương đương 2.408.000 đồng tiền Việt Nam, Do gia đình bị cáo đã nộp 3.200.000đồng tiền Việt nam theo biên lai số AA/2011/01588 ngày 29/4/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng là số tiền lớn hơn số tiền bị cáo bị truy thu nên hoàn lại số tiền 792.000 đồng còn thừa cho bị cáo.

- Đối với 01 ĐTDĐ hiê ̣u OPPO A92 màu xanh dương trắng, màn hinh cảm

̀ ứ ng đã qua sử dụng, 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu sơn xám BKS 11G1-015.33 là công cụ phương tiện của bi ̣ cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung công.

- Đối với 01 xe mô tô Honda Winer X BKS: 11B1 430.20 màu sơn đỏ đen; là tài sản chung của vợ chồng Nông Văn N, chị Thu vợ N không biết việc N sử dụng chiếc xe trên vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho Nông Thị T1 trú tại: B, T, H, Cao Bằng.

- Đối với số tang vật là: 01 ĐTDĐ OPPO F9 màu xanh phỉ thúy, dạng màn hình cảm ứng của Nông Văn C, 01 ĐTDĐ OPPO A3S màu xanh đen da ̣ng màn hinh cảm ứ ng của Hoàng Nông M, 01 xe mô tô Honda Wave màu sơn đen, BKS: ̀ 11U1-169.xx; 01 ĐTDĐ OPPO F9 màu đen da ̣ng cảm ứ ng của Nông Ngọc C1 không có căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của những người này do đó không xác định tang vật phương tiện trên được sử dụng vào mục đích phạm tội, cần trả lại cho họ.

- Cơ quan an ninh điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X, màu: Đỏ, BKS: 11B1 448xx, số khung: 3716LY0066xx; số máy: KC34E-11064xx (kèm theo 01 chìa khóa) cho ông Nông Văn T10 (bố của Nông Quốc H2) trú tại: Đ-T, H, Cao Bằng, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, những người này có đơn xin vắng mặt. Tại phiên tòa Hoàng Nông M xác nhận Nông Quốc H2 (Nông Văn T10) đã được cơ quan an ninh điều tra trả lại phương tiện trên vì không liên quan đến sự việc phạm tội, thực tế đã thấy H2 đang sử dụng tại địa phương.

Về án phí: Bị cáo Nông Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Căn cứ vào điểm b, điểm c khoản 2 Điều 348; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nông Văn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 24/10/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội của bi ̣ cáo là 2.408.000đ (hai triê ̣u bốn trăm không tám nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 3.200.000đ theo biên lai số AA/2011/01588 ngày 29/4/2021 tại Cục thi hành án dân sư tỉnh Cao Bằng, hoàn lại số tiền 792.000đ cho bị cáo.

- Tịch thu phát ma ̣i sung công quỹ công cụ phương tiện của bi ̣ cáo thực hiện vào mục đích phạm tội: 01 (mô ̣t) phong bi niêm phong theo quy đi ̣nh, mă ̣t trướ c

̀

ghi “điê ̣n thoại di đô ̣ng của Nông Văn N”; 01 (một) xe máy nhãn Honda Wave, màu sơn xám đen bạc, đã qua sử du ̣ng. Xe đeo biển kiểm soát biển kiểm soát 11G1-015.33, số khung: 132272, số máy: 5132411. Qua cà số khung, số máy thực tế của xe khớ p vớ i phiếu trả xác minh phương tiê ̣n giao thông cơ giớ i đườ ng bô ̣ của phòng C1 sát giao thông tinh Cao Bẳ

̀ng ngày 04/12/2020 có bản cà số khung, số máy kèm theo.

- Trả lại cho Nông Thị T1, trú tại: Bản Khau, T, H, Cao Bằng 01 (mô ̣t) xe máy nhan Honda Winer X, mã

̀u sơn đỏ xanh đen trắng, đa qua sữ

̉ du ̣ng. Xe đeo biển kiểm soát 11B1 - 430.xx, số khung RLHKC3717LY0138xx; số máy: KC34E11157xx. Qua cà số khung, số máy thực tế của xe khớ p vớ i phiếu trả xác minh phương tiê ̣n giao thông cơ giớ i đườ ng bô ̣ của phòng C1 sát giao thông tỉnh Cao Bằng ngày 04/12/2020 có bản cà số khung, số máy kèm theo.

- Trả la ̣i cho Nông Văn C: 01 (mô ̣t) phong bi niêm phong theo quy đi ̣nh, mă ̣t

̀ trướ c ghi “điê ̣n thoại di đô ̣ng của Nông Văn C”.

- Trả la ̣i cho Nông Ngo ̣c C1: 01 (mô ̣t) xe máy nhan Honda Wave màu sơñ đen ba ̣c, đa qua sữ

̉ du ̣ng, xe đeo biển kiểm soát: 11U1 -–169.xx, số khung: RLHJA3912LY2002xx, số máy: JA39E15381xx. Qua cà số khung, số máy thực tế của xe khớp với phiếu trả xác minh phương tiê ̣n giao thông cơ giớ i đườ ng bô ̣ của phòng C1 sát giao thông tinh Cao Bằng ngả

̀y 04/12/2020 có bản cà số khung, số máy kèm theo; 01 (một) phong bì niêm phong theo quy đi ̣nh, mă ̣t trướ c ghi “điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng của Nông Ngo ̣c C1”.

- Trả la ̣i cho Hoàng Nông M: 01 (mô ̣t) phong bi niêm phong theo quy đi ̣nh,

̀ mă ̣t trướ c ghi “điê ̣n thoại di đô ̣ng của Hoàng Nông M”.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 101 ngày 07 tháng 6 năm 2021.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nông Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nông Văn N có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án/. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đàm Văn Hữu

Lâm Ngo ̣c Tha ̣ch

Nông Hà Nam

Cỡ chữ