vanban.org

Bản án 67/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 03/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: C ị cáo hạm Đ nh Y, hạm Đ nh T phạm tội "Trộm ắp tài sản".

Hình phạt: - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo hạm Đ nh Y 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/5/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình Y và Phạm Đình T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: C ị cáo hạm Đ nh Y, hạm Đ nh T phạm tội "Trộm ắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:67/2021/HS-ST
Ngày 03 - 8 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Hồng Thiêm.

Bà Vũ Thị Thúy.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký TAND huyện Thái Thụy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Phạm Đình Y; sinh ngày 26/3/1982 tại Th i B nh

Nơi ư tr : Thôn D

A, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tr nh độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Đ nh D (đã chết) và à Bùi Thị H, sinh năm 1948; có v là Hà Thị Q (đ ly hôn). Bị o 02 on, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Án h nh sư số 07 ngày 05/03/2002 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt Phạm Đ nh Y 06 th ng tù nhưng ho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên n sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 05/3/2003; Án số 09/2012/HSST - ngày 10/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt Phạm Đ nh Y 02 năm 06 th ng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2011, chấp hành xong bản án ngày 18/01/2014. Bị o đ u th ị tạm giữ từ ngày 07/5/2021 đến ngày 13/5/2021 chuyển tạm giam đến nay Bị o đư tr h uất m t tại phiên t a

2. Bị cáo Phạm Đình T1; sinh ngày 10/6/1994 tại Th i B nh

Nơi ư tr : Thôn D

A, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tr nh độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông hạm Đ nh T2 sinh năm 1971 và à hạm Thị N sinh năm 1976; có v là Nguyễn Thị T3 sinh năm 1996; 02 on on lớn sinh năm 2016 on nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 16/11/2018 bị Công an huyện Thái Thụy ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương t h.

Bị o đ u th , ị tạm giữ từ ngày 07/5/2021 đến ngày 13/5/2021 chuyển tạm giam đến nay. Bị o đư tr h uất m t tại phiên t a

*Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng N sinh năm 1989; (có m t)

Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền để chi tiêu cá nhân, khoảng 23 giờ ngày 06/5/2021, Phạm Đ nh Y nhắn tin cho Phạm Đ nh T1 rủ T1 đi trộm cắp tài sản. Vì có quan hệ từ trước và nhiều l n đến hơi nhà anh Nguyễn Hoàng N, biết đư c chỗ để chìa khóa cổng và xe mô tô của nhà anh N nên T1 g i ý Y đến nhà anh N trộm cắp tài sản. Cả hai thống nhất hẹn lúc 01 giờ 15 phút ngày 07/5/2021 g p nhau tại khu vực cống Hạ thuộc thôn D, xã A, huyện T để đến trộm cắp chiếc xe mô tô của anh N. Khoảng 01 giờ ngày 07/05/2021, Y đi ộ từ nhà đến cống Hạ đ i T1, khoảng 15 phút sau T1 đi ộ từ nhà đến Sau đ T1 và Y đi ộ từ cống Hạ đến nhà anh N Khi đến cách cổng nhà anh N khoảng 10 mét, Y đứng lại cảnh giới, T1 đi đến cổng nhà anh N lấy chìa khóa cổng để tại lỗ gạch trong trụ bên phải. Thành dùng chìa khóa mở cổng rồi quay lại chỗ Y nói với Y “ h u mở cổng xong rồi, chú vào lấy đi” Sau đ Y đi vào nhà anh N còn T1 đứng ở ngoài canh coi, cảnh giới. Y đi vào trong sân nhà anh N quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu VYEM màu đỏ - đen gắn BKS 17K4-6994 của anh N để ở sân trước phòng ngủ ph a đông nhà anh N đ u xe quay vào trong nhà, Y dắt lùi chiếc xe ra ngoài cổng. Trong khi Y vào trong nhà anh N để trộm cắp xe, T1 đứng ngoài cảnh giới chờ lâu hưa thấy Y ra nên T1 đi về nhà trước. Sau khi trộm cắp đư c chiếc xe của anh N, Y dắt xe ra ngoài không thấy T1 đâu nên dắt xe về nhà Y để Sau đ Y gọi điện cho T1 hỏi T1 tại sao về sớm, T1 trả lời Y do đ i lâu, s tối nên về trước, nói xong Yên tắt máy. T1 gọi điện cho Y hỏi Y có trộm cắp đư c xe mô tô của nhà anh N không, Y trả lời T1 là “ ” Cùng ngày iết việc trộm cắp xe mô tô của anh N đ ị phát hiện nên T1, Y đến Công an huyện Thái Thụy đ u thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, giao nộp chiế e mô tô đ trộm cắp đư c của anh N ho Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an huyện Thái Thụy quản lý.

Tại bản kết luận giá tài sản số 20/KL-ĐG ngày 11/05/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thái Thụy kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu VYEM màu đỏ - đen gắn BKS 17K4-6994 đ qua sử dụng trị gi 2 500 000 đồng. Qu tr nh điều tra, truy tố và tại phiên tòa,

bị cáo và ị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận gi m định nêu trên.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKSTT ngày 15/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đ truy tố

bị cáo hạm Đ nh T1 và hạm Đ nh Y về tội "Trộm ắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như đ nêu trong ản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với

bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố

bị cáo hạm Đ nh Y, hạm Đ nh T1 phạm tội "Trộm ắp tài sản”; ăn ứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Y từ 09 tháng đến 12 tháng tù; ăn ứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với

bị o Ngoài ra n đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

C ị cáo không tranh luận đối với đề nghị của Viện kiểm sát. C ị cáo nói lời sau ùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên ơ sở nội dung vụ n ăn ứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an huyện Thái Thụy Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tụ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. C ị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng Do đ

hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

Về hành vi phạm tội của

bị cáo: Tại phiên tòa,

ị o hạm Đ nh Y, hạm Đ nh T1 đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như nội dung bản cáo trạng đ truy tố. Hành vi phạm tội của

bị o n đư c chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn tr nh o và lời khai của bị hại anh Nguyễn Hoàng N (Bút lục số 145-149); biên bản

định hiện trường sơ đồ hiện trường do Cơ quan cảnh s t điều tra Công an huyện Thái Thụy lập ngày 07/5/2021 (Bút lục số 92-95); Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đ u thú do do Cơ quan ảnh s t điều tra Công an huyện Thái Thụy lập ngày 07/5/2021 của các bị can Phạm Đ nh Y, Phạm Đ nh T1; bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-ĐG ngày 11/05/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thái Thụy (Bút lục số 23); lời khai của ông Đ ng Văn L (Bút lục số: 150-151). Xét thấy, lời khai nhận tội của

bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của

bị o trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù h p với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ ăn ứ để kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 07/05/2021, tại nhà anh Nguyễn Hoàng N ở thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình, l i dụng sơ hở, Phạm Đ nh Y và Phạm Đ nh T1 đ trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VYEM sơn màu đỏ - đen, gắn biển kiểm soát 17K4-6994 đ qua sử dụng, trị giá 2.500.000 đồng của gia đ nh anh N, mụ đ h để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T1 và Y đến Công an huyện Thái Thụy đ u thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử đủ ăn ứ để kết luận

ị o hạm Đ nh T1 và hạm Đ nh Y đ phạm tội "Trộm ắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đ truy tố là

ăn ứ đ ng người đ ng tội đ ng ph p luật

Điều 173 Tội trộm ắp tài sản– Bộ luật h nh sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Đ nh gi t nh hất mứ độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: ành vi ủa

ị o là nghiêm trọng âm phạm đến quyền sở hữu tài sản ủa người kh đư ph p luật ảo vệ và gây mất trật tự trị an hội Bị o T1 đ một l n ị ử phạt hành h nh về hành vi ố ý gây thương t h ho người khác ị o Y đ hai l n ị T a n nhân dân huyện Th i Thụy đưa ra t ử trong đ một l n ị t ử về tội “Trộm ắp tài sản” và một l n ị t ử về tội “Tàng trữ tr i ph p hất ma t y”, tuy nhiên

ị o không lấy đ làm ài họ tu dưỡng ản thân mà lại tiếp tụ thự hiện hành vi phạm tội thể hiện sự oi thường ph p luật

X t vai tr ủa

ị o th thấy: Đây là vụ n đồng phạm giản đơn quá trình thực hiện hành vi phạm tội

ị o không bàn bạc và phân công vai trò cụ thể từ trước. Y là người khởi ướng và trực tiếp trộm cắp tài sản, T là người chỉ nơi tài sản để trộm cắp là người mở cổng và canh coi, cảnh giới. Nên c n

định bị cáo Y giữ vai trò chính, còn bị cáo T giữ vai tr là người giúp sức trong vụ án.

Xét các tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: C ị o không phải hịu t nh tiết tăng n ng tr h nhiệm h nh sự nào. Sau khi phạm tội

ị o đ ra đ u th qu tr nh điều tra truy tố và tại phiên t a đều thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên

ị o đều đư hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Đ nh T phạm tội l n đ u và thuộ trường h p ít nghiêm trọng nên đư hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy c n phải xử phạt nghiêm khắ tương ứng tính chất, mứ độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo, như vậy mới có t dụng ải tạo gi o dụ đối với

ị o nói riêng ũng như răn đe đấy tranh và ph ng ngừa tội phạm n i hung. Tuy nhiên ũng n em t giảm nhẹ một ph n h nh phạt ho

ị o là phù h p với h nh s h khoan hồng ủa Nhà nướ ta tạo điều kiện để ải tạo gi o dụ

ị o sớm trở thành người

h ho hội Không p dụng h nh phạt ổ sung đối với

ị o v

ị o đều làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định và không tài sản riêng

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VYEM màu đỏ - đen gắn BKS 17K4-6994 đ qua sử dụng. Quá trình điều tra

định anh Nguyễn Hoàng N là chủ sở hữu h p pháp của chiếc xe trên ơ quan điều tra đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại là anh Nguyễn Hoàng N quản lý, sử dụng là phù h p với quy định pháp luật, anh N đ nhận lại xe và không yêu c u các bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên không c n đ t ra giải quyết. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thư giữ của bị cáo Y là chiế điện thoại của bị o Y sử dụng liên lạc rủ bị o T1 đi trộm cắp xe mô tô của anh N. X t thấy đây là phương tiện dùng vào việ phạm tội nên n tị h thu sung vào ngân s h nhà nướ

Về án phí: C ị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: C ị cáo hạm Đ nh Y, hạm Đ nh T phạm tội "Trộm ắp tài sản".

2. Hình phạt: - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo hạm Đ nh Y 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/5/2021.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo hạm Đ nh Y 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/5/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân s h nhà nướ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA bàn phím bấm màu đen số IMEI 1: 356948093380202.

(Vật chứng trên đ huyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2021)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội ủa Ủy an Thường vụ Quố hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

C ị o hạm Đ nh T1 và hạm Đ nh Y, mỗi bị cáo phải chịu 200 000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: C ị o hạm Đ nh T1, hạm Đ nh Y và bị hại có m t tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 03/8/2021. Bị hại vắng m t tại phiên tòa có quyền khnsg cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án/.

Cỡ chữ