- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị V - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2021/HNGĐ-ST Ngày 17-9-2021 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thắng;
Ông Lê Văn Huy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2021/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 675/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 725/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V; đăng ký hộ khầu thường trú: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; trú tại: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 6 năm 2021, bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn vào năm 1997, đến ngày 16 tháng 5 năm 2013 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại thôn Tiên Hội, xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T sống thiếu trách nhiệm với gia đình, hay rượu chè, say xỉn về nhà mắng chửi, đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Những lúc như vậy chị thường phải về nhà mẹ đẻ hoặc nhà người thân để ở tạm. Cuộc sống vợ chồng cứ lặp đi lặp lại như vậy khiến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị và gia đình hai bên đã khuyên ngăn anh T nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ đầu năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không có khả năng hàn gắn nên đề nghị ly hôn anh T. Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Văn T’, sinh năm 1997, đã trưởng thành nên không xem xét vấn đề nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Chị V tự thoả T với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ án, nhưng đều vắng mặt, không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Cháu Nguyễn Văn T’ sinh năm 1997 đã trưởng thành nên không xem xét vấn đề nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Nguyễn Văn T; trú tại: Thôn Tiên Hội, xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn T kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng vào ngày 16 tháng 5 năm 2013 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn giữa chị V và anh T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T sống thiếu trách nhiệm với gia đình, hay rượu chè say xỉn, về nhà mắng chửi, đánh đập và đuổi chị V ra khỏi nhà. Chị V thường phải về nhà mẹ đẻ hoặc nhà người thân để ở tạm. Cuộc sống vợ chồng cứ lặp đi lặp lại như vậy khiến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ đầu năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Quá trình xác minh chính quyền địa phương và gia đình đều xác nhận mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị V xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị và anh Cường có 01 con chung là Nguyễn Văn T’, sinh năm 1997, đã trưởng thành nên không xem xét vấn đề nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 19, 56, của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị V đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019298 ngày 16 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - UBND xã An Tiến; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NguyễnTuấn Anh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |