vanban.org

Bản án 67/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N đối với chị Tôn Bé P về việc “Tranh chấp dân sự về Hợp đồng vay tài sản”. Buộc chị Tôn Bé P có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Thị Kim N số tiền 50.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tôn Bé P phải chịu số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị Nguyên Thị Kim N với chị Tôn Bé P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N đối với chị Tôn Bé P về việc “Tranh chấp dân sự về Hợp đồng vay tài sản”. Buộc chị Tôn Bé P có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Thị Kim N số tiền 50.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/DS-ST
Ngày: 18-6-2021
V/v “tranh chấp dân sự về hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thiết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thảo Huyên

2. Ông Trần Tấn Phát

- Thư ký phiên tòa: bà Ngô Thị Cẩm Loan, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh,tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm s t nh n d n thành ph T Ninh tỉnh T Ninh tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Thu, Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 18 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 593/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp dân sự về Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2021/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số 721, đường 781, tổ 5, ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Nguyễn Đức C, sinh năm:1985 vắng mặt có đơn.

Địa chỉ: Số 89, đường P, khu phố T, phường S, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Chị Tôn Bé P, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt có đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 11 năm 2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do có mối quan hệ quen biết, làm ăn, nên chị Nguyễn Thị Kim N có cho chị Tôn Bé P vay tiền 50.000.000 vào ngày 09-3-2019, chị Tôn Bé P có viết giấy nhận nợ, không thỏa thuận thời gian thanh toán nợ và cũng không thỏa thuận về lãi suất, từ ngày vay nợ cho đến nay chị N đã nhiều lần yêu cầu chị P thanh toán nợ nhưng chị P cố tình tránh né không trả nợ. Do đó chị N yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xử buộc chị P có nghĩa vụ trả cho chị N với số tiền 50.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi.

* Bị đơn chị Tôn Bé P trình bày như sau:

Chị có mượn của chị Nguyễn Thị Kim N với số tiền là 50.000.000 đồng, chị có viết giấy mượn tiền ngày 09-3-2019, trong giấy nợ không thỏa thuận thời gian thanh toán nợ và lãi suất. Nhưng hai bên thỏa thuận trả góp mỗi ngày là 500.000 đồng trả cho đến khi hết nợ, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay chị P đã trả được 33.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi, hiện nay chị còn nợ chị N 17.000.000 đồng tiền gốc, do hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên chị xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

Về nội dung: Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N về việc tranh chấp dân sự về Hợp đồng vay tài sản; buộc chị Tôn Bé P có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 50.000.000 đồng, ghi nhận chị N không yêu cầu tính lãi suất.

Chị Tôn Bé P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim N khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản đối với chị Tôn Bé P. Theo quy định tại khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị Tôn Bé P có đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện của nguyên đơn anh Nguyễn Đức C có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Tôn Bé P và anh Nguyễn Đức C là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.

Về nội dung: Ngày 09-3-2019 chị Nguễn Thị Kim N có cho chị Tôn Bé P mượn số tiền 50.000.000 đồng, có viết giấy nhận nợ, không thỏa thuận ngày trả nợ, cũng không thỏa thuận lãi suất. Chị Tôn Bé P thừa nhận có vay tiền của chị Nguyễn Thị Kim N với số tiền 50.000.000 mượn vào ngày 09-3-2019, có viết giấy nhận nợ, trong giấy nhận nợ không thỏa thuận ngày trả gốc và tính lãi, nhưng thỏa thuận bằng lời nói là mỗi ngày trả 500.000 đồng trong đó có tính lãi, trả cho đến khi hết nợ, tính đến thời điểm chị Nguyễn Thị Kim N khởi kiện chị Tôn Bé P đã trả được 33.000.000 hiện còn nợ 17.000.000 đồng. Xét thấy việc chị Nguyễn Thị Kim N cho chị Tôn Bé P vay số tiền 50.000.000 đồng là có thật, chị Tôn Bé P cho rằng đã trả cho chị Nguyễn Thị Kim N được 33.000.000 đồng không có căn cứ nào chứng minh chị P đã trả được 33.000.000 đồng, hiện chị Nguyễn Thị Kim N khởi kiện cung cấp cho Tòa án biên nhận nợ ngày 09-3-2019 với số tiền vay là 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đề xuất, cùng các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ chứng minh số tiền chị Tôn Bé P mượn 50.000.000 đồng chưa trả, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N là có căn cứ, ghi nhận chị Nguyễn Thị Kim N không yêu cầu tính lãi suất.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tôn Bé P phải chịu số tiền 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N đối với chị Tôn Bé P về việc “Tranh chấp dân sự về Hợp đồng vay tài sản”. Buộc chị Tôn Bé P có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Thị Kim N số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), ghi nhận chị Nguyễn Thị Kim N không yêu cầu tính lãi.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Chị Tôn Bé P phải chịu số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Chị Nguyễn Thị Kim N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 1.250.000 (một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0000365 ngày 08-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai tại nơi cư trú.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Cỡ chữ