vanban.org

Bản án 67/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 02/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V.

Buộc bà Nguyễn Thị Minh Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V số tiền nợ tính đến ngày 01/12/2021 là 64.255.064 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 51.690.000 đồng (Năm mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Nguyễn Thị Minh Thái"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/DS-ST
Ngày 02 /12/2021
V/v " Tranh chấp
hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuở.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hưng

2. Bà Nguyễn Thị Loan Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2021/TLST- DS ngày 14 tháng 6 năm 2021 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2021/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển V.

Địa chỉ: Tháp BIDV 35 Hàng Vôi, quận HK, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Ngọc B – Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển V, chi nhánh B.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Ngọc B: Bà Nguyễn Thị Kim Ph – Chuyên viên Phòng khách hàng cá nhân Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển V, chi nhánh B.

Địa chỉ: 21, Đại lộ Đồng Khởi, phường A, thành phố B, tỉnh B.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh Th, sinh năm 1971

Địa chỉ: số 04A ấp 2, xã Hữu Đ, huyện C, tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị Minh Th có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V, chi nhánh B từ ngày 27/11/2019 cho đến nay, cụ thể như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 01/2019/2892658/HĐ ngày 27/11/2019

- Mục đích vay tiêu dùng

- Số tiền vay: 56.000.000 đồng

- Thời hạn vay 48 tháng (từ ngày 27/11/2019 đến 27/11/2023)

- Lãi suất cho vay: Lãi suất tại thời điểm cho vay thả nổi, cụ thể lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VND 24 tháng trả lãi cuối kỳ cộng biên độ theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểmđiều chỉnh. Lãi suất được điều chỉnh theo định kỳ 02 lần/năm trên cơ sở số dư nợ vay và lãi suất cho vay hiện thời do chi nhánh thông báo tại thời điểm điều chỉnh vào các ngày 01/6, 01/12 trong năm. Lãi suất vay quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

- Hình thức đảm bảo vay nợ: không thế chấp tài sản.

- Quá trình vay vốn bà Nguyễn Thị Minh Th đã vi phạm cam kết về trả nợ gốc và lãi của hợp đồng đã ký kết, cụ thể khi khoản vay đến hạn thanh toán bà Th không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 01/12/2021 bà Th còn nợ số tiền 64.255.064 đồng trong đó dư nợ gốc là 51.690.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.321.256 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.243.808 đồng. Ngân hàng đã liên hệ tác động nhiều lần nhưng bà Nguyễn Thị Minh Th vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Minh Th trả số tiền nợ vay tính đến ngày 01/12/2021 là 64.255.064 đồng như đã nêu trên, đồng thời yêu cầu bà Th trả lãi phát sinh từ ngày 02/12/2021 đến khi trả tất nợ.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Minh Th không đến Tòa án, đồng thời không có gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

-Việc tuân theo pháp của những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không đến tòa giải quyết vụ án là không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V. Buộc bà Nguyễn Thị Minh Th trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V số tiền nợ tính đến ngày 01/12/2021 là 64.255.064 đồng trong đó nợ gốc là 51.690.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.321.256 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.243.808 đồng, đồng thời bà Th còn phải trả lãi từ ngày 02/12/2021 đến khi trả xong nợ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Minh Th đã Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2019/28292658/HĐTD ngày 27/11/2019 giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V – Chi nhánh B với bà Nguyễn Thị Minh Th ghi địa chỉ của bà Th là ấp 2, xã Hữu Đ, huyện C, tỉnh B, đơn vị công tác là Bệnh viện tâm thần Bến Tre nhưng hiện nay bà Th đã nghỉ việc, đồng thời thay đổi nơi cư trú nhưng bà không thông báo địa chỉ mới cho Ngân hàng, do đó có đủ cơ sở xác định bà Th đã cố tình giấu địa chỉ. Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bà Th theo quy định của theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/HĐTP-TANDTC ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V – Chi nhánh Bến Tre với bà Nguyễn Thị Minh Th được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V – Chi nhánh B có địa chỉ tại thành phố Bến Tre nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V, chi nhánh Bến Tre là đơn vị trực thuộc Ngân hàng TNCP Đầu tư và phát triển V và bà Nguyễn Thị Minh Th có ký hợp đồng Hợp đồng tín dụng số 01/2019/2892658/HĐ ngày 27/11/2019 có nội dung bà Th vay số tiền 56.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất cho vay thả nổi, vay không có tài sản thế chấp, lãi suất vay quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, hình thức trả vốn và lãi theo kỳ. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Minh Th đã trả đến kỳ thứ 4 (tháng 02 năm 2020) được số tiền là 5.870.312 trong đó tiền nợ gốc là 4.310.000 đồng, tiền lãi là 1.560.312 đồng. Sau đó bà Th không tiếp tục trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận, đồng thời nghỉ việc và thay đổi nơi cư trú, Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để thu hồi nợ nhưng không có kết quả. Tính đến ngày 01/12/2021 bà Th còn nợ số tiền 64.255.064 đồng trong đó nợ gốc là 51.690.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.321.256 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.243.808 đồng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Minh Th trả số tiền nợ này và tiền lãi phát sinh từ ngày 02/12/2021 đến khi trả tất nợ là đúng quy định của pháp luật. Buộc bà Nguyễn Thị Minh Th trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 01/12/2021 bà Th còn nợ số tiền 64.255.064 đồng và lãi phát sinh từ ngày 02/12/2021 đến khi bà Th trả xong nợ.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Minh Th phải nộp án phí theo quy định của pháp luật, cụ thể là : 64.255.064 đồng x 5% = 3.212.753 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự

- Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V.

Buộc bà Nguyễn Thị Minh Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V số tiền nợ tính đến ngày 01/12/2021 là 64.255.064 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 51.690.000 đồng (Năm mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng), lãi trong hạn là 11.321.256 đồng (Mười một triệu ba trăm hai mốt nghìn hai trăm năm sáu đồng), lãi quá hạn là 1.243.808 đồng (Một triệu hai trăm bốn ba nghìn tám trăm lẽ tám đồng).

Bà Nguyễn Thị Minh Th còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 01/2019/28292658/HĐTD ngày 27/11/2019 giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển V – Chi nhánh Bến Tre với bà Nguyễn Thị Minh Th từ ngày 02/12/2021 đến khi bà Th trả xong nợ.

2.Về án phí DSST:

- Buộc bà Nguyễn Thị Minh Th phải nộp án phí có giá ngạch là 3.212.753 đồng (Ba triệu hai trăm mười hai nghìn bảy trăm năm ba đồng)

- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.493.000 đồng (Một triệu bốn trăm chín ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005393 ngày 11/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.

3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ