- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/HS-PT Ngày 26 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nghĩa
Các Thẩm phán
: Ông Nguyễn Tuấn Long
: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 56/2020/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Huỳnh Tấn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 78/2020/HS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Tấn T (tên gọi khác: D), sinh năm 1990, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh C và bà Nguyễn Thị B; Có vợ (đã ly hôn) và một con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 28/11/2019 đến ngày 06/12/2019: Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 22 giờ 00 phút ngày 27 tháng 11 năm 2019, Huỳnh Tấn T gọi điện rủ Nguyễn Tiến D cùng sử dụng ma túy. T chuẩn bị 02 loa xách tay, 01 đèn nháy xách tay rồi gọi taxi đến bar Lodge mua 05 viên “thuốc lắc”, nửa hộp 5 ma túy “khay” của một người phụ nữ tên H rồi đến chung cư Mường Thanh Viễn Triều (ở số 03-05 Phạm Văn Đồng, Vĩnh Phước, Nha Trang) thuê phòng số 2416. Khoảng 00 giờ ngày 28/11/2019, D gọi điện thoại cho T để biết địa điểm và rủ thêm Nguyễn Vũ H1, Đỗ Trần P cùng đến phòng số 2416. Sau đó P gọi điện cho Huỳnh Thị Thùy M, T gọi cho Võ Thị Tuệ N đến cùng sử dụng ma túy.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28 tháng 11 năm 2019, Tổ công tác Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh Khánh Hòa kiểm tra, phát hiện trong Phòng 2416 Tòa nhà OC1B Mường Thanh Viễn Triều có Huỳnh Tấn T, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Vũ H1, Đỗ Trần P, Huỳnh Thị Thùy M, Võ Thị Tuệ N và thu giữ trên bàn trong phòng: 01 bịch nilon có khóa khằn miệng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 1,2650g là ma túy loại Ketamine và 01 bịch nilon có khóa khằn miệng bên trong có 03 viên nén màu xanh lá cây có khối lượng 1,0764g là ma túy loại MDMA (theo Kết luận giám định số 679/GĐTP/2019 ngày 03/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa) và một số vật dụng để sử dụng ma túy.
Tại bản án sơ thẩm số 78/2020/HS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Huỳnh Tấn T 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 18 tháng 5 năm 2020, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã mua ma túy để sử dụng và bị phát hiện, thu giữ phần ma túy còn lại sau khi đã sử dụng đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo cho là bản án sơ thẩm kết tội bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhưng xin giảm hình phạt với lý do bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết, hoàn cảnh gia đình khó khăn (bị cáo là lao động chính trong gia đình, đã ly hôn và phải nuôi con nhỏ).
Phát biểu tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thu thập được. Có đủ cơ sở xác định bị cáo đã tàng trữ trái phép 1,2650g là ma túy loại Ketamine và 1,0764g là ma túy loại MDMA.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về tàng trữ chất ma túy. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và căn cứ các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, là người chưa có tiền án, tiền sự để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Huỳnh Tấn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; Thời hạn tạm giữ (từ ngày 28/11/2019 đến ngày 06/12/2019) được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Công an TP. Nha Trang; - VKSND TP. Nha Trang; - TAND TP. Nha Trang; - Chi cục THA DS TP. Nha Trang; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Lưu án văn; - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Nghĩa |