- Tranh chấp gì? án hình sự — "chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết C phạm tội “ Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/HS-ST Ngày: 09/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Hùng
Ông Lê Quang Vinh
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Dung – Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 05 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HS ngày 26/5/2019 đối với bị cáo:
Lê Viết C – tên gọi khác: Không.Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Viết Đ( đã chết) và bà Trương Thị Q; Chưa có vợ con. Gia đình có 09 chị em, bị cáo là con thứ 6. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/3/2020 đến ngày 10/3/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Những người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Hữu P- sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt;
2. Anh Trần Văn D- sinh năm 1987
Địa chỉ: Phố N, phường X, thành phố T.Vắng mặt;
3. Anh Nguyễn Hoàng L- sinh năm 1976
Địa chỉ: Xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt;
4.Anh Lê Thanh M- sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn 3, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
5.Anh Trần Lê Quốc C- sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu 5, Thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt;
6. Anh Hoàng Văn N- sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt;
Anh L và anh M có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 29/02/2020, Công an xã N, huyện T tiếp nhận tin báo về việc mất an ninh trật tự tại nhà bà Trương Thị Q, ở tổ 4, thôn P, xã N. Do mâu thuẫn trong khi ăn uống tại nhà bà Q; Lê Viết C, sinh năm 1969 (là con trai bà Q) đã có hành vi chửi bới và lùa đánh anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1971, ở thôn P, xã N (là con rể bà Q. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã N đã cử tổ công tác gồm các đồng chí Trần Lê Quốc C, cán bộ Công an xã chính quy; đồng chí Hoàng Văn N, Công an viên và đồng chí Lê Công S, Trưởng thôn phố N đến để giải quyết vụ việc.
Khi tổ công tác đến nhà bà Q thì thấy Lê Viết C đang có hành vi đuổi, đánh và chửi bới anh P, gây mất an ninh trật tự. Tổ công tác đã can ngăn và yêu cầu C vào nhà để giải quyết, tuy nhiên C không chấp hành mà có hành vi chửi, bới, ngăn cản tổ công tác. Lúc này đồng chí Trần Lê Quốc S vào nhà để yêu cầu C chấm dứt hành vi vi phạm thì C đã chốt cửa cổng ra vào, không cho đồng chí S ra ngoài và không cho các thành viên khác trong tổ công tác vào nhà C để làm việc. Tổ công tác đã kiên trì thuyết phục nhưng C không chấp hành và tiếp tục có hành vi chửi bới, đe dọa đánh tổ công tác. Khi lực lượng tăng cường của Công an xã N do đồng chí Nguyễn Hoàng L, Trưởng công an xã; đồng chí Lê Thanh M, Phó trưởng Công an xã và đồng chí Lê Văn N, Công an viên đến để can ngăn, yêu cầu C chấm dứt hành vi vi phạm và mở cửa cho đồng chí S ra ngoài nhưng C không chấp hành mà tiếp tục có hành vi chửi bới, xúc phạm tổ công tác, xô đẩy tổ công tác ra ngoài. C cầm một tuýp sắt đe dọa sẽ đánh nếu tổ công tác vào nhà đồng thời đe dọa và yêu cầu đồng chí S viết vào một tờ giấy có nội dung “Tôi vào nhà anh C khỏe mạnh không bị đánh đập gì”. Lúc này tổ công tác mở cửa cổng vào nhà khống chế, tước bỏ hung khí, bắt giữ C đưa đến trụ sở Công an xã N và tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với hành vi Chống người thi hành công vụ của C. Công an xã N thu giữ trong túi quần của Lê Viết C thu giữ 01 (một) tờ giấy, một mặt có ghi chữ phô tô, một mặt ghi nội dung “Tôi vào nhà anh C khỏe mạnh không bị đánh đập gì vào hồi 21h33 ngày 29/2/2020 có chữ ký và họ tên Trần Lê Quốc S ”. 01 (một) đoạn ống kim loại, dạng tròn có chiều dài 99cm, đường kính 4,2cm bên ngoài được sơn màu trắng, mà C sử dụng để đe dọa tổ công tác. (BL 129-173; 182-209)
* Vật chứng của vụ án: 01 (một) đoạn ống kim loại, dạng tròn có chiều dài 99cm, đường kính 4,2cm bên ngoài được sơn màu trắng. Vật chứng được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 39/CT-VKS-P2 ngày 04/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa dã truy tố Lê Viết C tội „‟Chống người thi hành công vụ‟‟ theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng:
-Khoản 1 Điều 330, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 : Xử phạt bị cáo Lê Viết Chung từ 06 đến 09 tháng tù;Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống kim loại, dạng tròn có chiều dài 99cm, đường kính 4,2cm bên ngoài được sơn màu trắng hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án tỉnh Thanh Hóa;Về án phí: Buộc Lê Viết C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận , (trình bày) lời nói sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, VKS huyện T và Tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Sau khi xác định vụ án người chống đối là Cán bộ Công an huyện T nên vụ án được chuyển lên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa theo các Điều 36,136 và 169 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố, TAND Tỉnh Thanh Hóa xét xử là đúng thẩm quyền. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với tang vật chứng trong vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Vào tối ngày 29/02/2020 tại nhà Lê Viết C ở thôn P, xã N, huyện T xảy ra vụ việc gây mất an ninh trật tự. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi tổ công tác của Công an xã N đến để giải quyết vụ việc. Lê Viết C mặc dù biết rõ tổ công tác Công an xã N đang thi hành công vụ, nhưng C không chấp hành mà có hành vi chửi bới, dùng tuýp sắt đe dọa đánh, uy hiếp tổ công tác khi đang thực hiện nhiệm vụ; ép buộc đồng chí Trần Lê Quốc S người đang thi hành công vụ.
Do đó HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Lê Viết C đã phạm tội ‟‟Chống người thi hành công vụ’’ được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự, và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Theo nhiệm vụ được phân công, anh Trần Lê Quốc S đã xuống nhà bị cáo để giải quyết việc anh em trong nhà xô xát đánh chửi nhau do có ăn cơm, uống rượu. Tuy nhiên bị cáo đã nhốt anh S, chửi bới anh các anh công an viên, có hành vi, lời lẽ chống đối, đe dọa. Hành vi của bị cáo cần xử phạt nghiêm để ổn định an ninh trật tự địa phương, răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
- Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo chưa có vợ con, hiện đang nuôi mẹ già là mẹ Liệt sỹ, hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng gì , thời gian tạm giam cũng đủ để bị cáo được giáo dục về ý thức chấp hành pháp luật, thấm thía với hành vi vi phạm của mình, nên cần áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự, xử dưới khung cho bị cáo, bằng thời gian đã bị tạm giam và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật và thể hiện được sự nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta.
Đối với hành vi đánh anh Nguyễn Hữu P: Quá trình điều tra xác định anh P không bị thương tích gì, từ chối giám định và không đề nghị xử lý đối với Chung, vết bầm ở đuôi mắt trái của anh P là do khi bỏ chạy P tự đâm va vào cánh cửa cổng của nhà bà Q vì vậy không xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi gây thương tích của Lê Viết C.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống kim loại, dạng tròn có chiều dài 99cm, đường kính 4,2cm bên ngoài được sơn màu trắng hiện đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm Khoản 1 Điều 330, điểm i, điểm s khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết C phạm tội “ Chống người thi hành công vụ”.
3. Xử phạt: Bị cáo Lê Viết C 3( ba) tháng 09( chín) ngày tù, tính từ ngày 01/3/2020 đến ngày 09/6/2020, bị cáo đã chấp hành xong.
Tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không phạm tội khác;
4. Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn ống kim loại, dạng tròn có chiều dài 99cm, đường kính 4,2cm bên ngoài được sơn màu trắng hiện đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vất chứng số 66/2020/TV- CTHADS ngày 05/5/2020.
5. Án phí: Bị cáo Lê Viết C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Lê Viết C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thị Phƣơng Thanh |