vanban.org

Bản án 67/2020/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 29/04/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Tiến D.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Trần Tiến D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Tiến D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29-4-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim San

Ông Nguyễn Thành Biên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992; trú tại: Thị trấn TL, huyện TL, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Trần Tiến D, sinh năm 1982; hiện cư trú tại: E.8, 49074 Osnabrück, Cộng hòa Liên bang Đức

Chị Nguyễn Thị L có mặt, anh Trần Tiến D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND huyện TL, thành phố Hải Phòng vào ngày 09/02/2018. Sau khi kết hôn, anh D trở về Đức sinh sống, còn chị L ở lại Việt Nam. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do khoảng cách địa lý và tính cách không phù hợp. Nay do mâu thuẫn căng thẳng, không thể hòa giải để đoàn tụ gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên chị L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Tiến D.

- Về con chung và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có con chung và không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn xin ly hôn và đơn xin xét xử vắng mặt của bị đơn là anh Trần Tiến D đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trình bày:

Anh Trần Tiến D thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị L về việc kết hôn, chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Anh xác nhận, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, anh chị sống mỗi người mỗi nơi nên anh đồng ý và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị L. Do anh Trần Tiến D đang làm việc ở xa không có điều kiện tham gia giải quyết việc ly hôn được nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, không tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án, anh đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị L giao, nhận thay tất cả văn bản tố tụng của Tòa án.

Về con chung và tài sản chung: Anh và chị L không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh Trần Tiến D đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L có mặt, anh Trần Tiến D vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của anh Trần Tiến D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị L hiện đang cư trú tại thành phố Hải Phòng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Tiến D hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là anh Trần Tiến D vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TL, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị L và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện do chị L và anh D mỗi người sinh sống mỗi nơi, khoảng cách địa lý xa xôi, tính cách không phù hợp, tình cảm vợ chồng dần lạnh nhạt, dẫn tời thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tin tưởng, quan tâm lẫn nhau khiến cho tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ gia đình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L và anh D đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị L xin ly hôn với anh D và được anh D hoàn toàn đồng ý phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Tiến D.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có con chung, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có tài sản chung, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Tiến D.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Tiến D không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008547 ngày 09 tháng 4 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị L đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Tiến D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ