- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lan xin ly hôn anh Hành"
- Tòa quyết gì? 1- Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/HNGĐ-ST Ngày 28 - 5 - 2020 V/v ly hôn giữa chị L và anh H |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N
- TH phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Rạng
2. Bà Dương Thị Vui
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú-Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Hà Viết Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2020. Về vụ án tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L - Sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn Chiềng Mưng, xã Đ, huyện B, tỉnh Th.
+ Bị đơn: Anh Trần Văn H - Sinh năm 1983 Địa chỉ: Đội 5, xã N, huyện N, tỉnh N.
Tại phiên tòa vắng mặt chị L và anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 05/02/2020 cũng như lời khai của chị Bùi Thị L trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn H vào tháng 12/2010 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là hai bên bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên rượu chè đánh chửi chị. Đã nhiều lần chị và hai bên gia đình khuyên giải nhưng anh H không thay đổi. Từ tháng 4/2017 đến nay chị và anh H sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn nên chị xin được ly hôn anh Trần Văn H. Về con chung giữa chị và anh Trần Văn H không có con chung nên chị không yêu cầu giải quyết về con chung. Về tài sản chung giữa chị và anh Trần Văn H thì chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí, chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều kiện công việc bận, chị không tham gia phiên tòa được nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
Tại phiên toà anh Trần Văn H vắng mặt nhưng có lời khai của bà Phạm Thị Liễu là mẹ của anh H trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Bùi Thị L về quá trình kết hôn, sống chung giữa anh H và chị L. Sau khi kết hôn anh H và chị L chung sống hòa thuận đến năm 2011 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2014 cho đến nay anh H và chị L sống ly thân nhau. Nay chị L xin ly hôn anh H và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giao các văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H vắng mặt nên bà nhận thay và đã giao lại anh H đẩy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh H có ý kiến với bà để trình bày với Tòa án là chị L xin ly hôn anh H thì anh H nhất trí. Về con chung giữa anh H và chị L không có nên anh H không yêu cầu giải quyết về con chung. Về tài sản chung giữa anh H và chị L thì anh H không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 6; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H. Đề nghị tuyên án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Bùi Thị L cư trú tại xã Đ, huyện B, tỉnh Th có đơn xin ly hôn anh Trần Văn H cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh N và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H, nhưng chị L có đơn xin xét xử vắng mặt và anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án tiến H xét xử vắng mặt chị L và anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H được tổ chức kết hôn vào tháng 12/2010, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hồng, là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, chị L và anh H chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau, không có tiếng nói chung trong hôn nhân. Từ năm 2017 đến nay thì chị L và anh H sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị L xin ly hôn anh H nên chấp nhận là phù hợp.
Về con chung: Chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H không có con chung và không yêu cầu giải quyết về con chung nên không đặt xem xét giải quyết.
Về tài sản: Chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H không yêu cầu giải quyết về tài án chung của anh chị nên không đặt xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Bùi Thị L phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1- Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H.
2- Về án phí dân sự sơ thẩm chị Bùi Thị L phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Bùi Thị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2017/0000878 ngày 05/02/2020 tại Chi cục thi H án dân sự huyện N. Chị Bùi Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị L và anh H. Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi H theo quy định tại Điều 2 Luật Thi H án dân sự thì người được thi H án và người phải thi H án có quyền thoả thuận thi H án, quyền yêu cầu thi H án, tự nguyện thi H án hoặc bị cưỡng chế thi H án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi H án dân sự; thời hiệu thi H án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi H án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh N; - VKSND H N; - Chi cục THADS H N; - UBND xã N; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Đào Văn Rạng Dƣơng Thị Vui | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Xuân Dũng THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Xuân Dũng |