- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N cùng trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 7.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH CÀ MAU ————— Bản án số: 67/2020/DS-ST Ngày 28 - 7 - 2020 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Ông Trần Quốc Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2020/TLST-DS, ngày 23 tháng 4 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2020/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).
Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Ông Hoàng Gia C, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Ông Hoàng Chí N, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 13/9/2015, bà Nguyễn Thị A có mua 01 điện thoại di động hiệu Mobistar giá 1.650.000 đồng, yêu cầu trả góp hàng tháng. Thỏa thuận góp trong thời gian 06 tháng, mỗi tháng góp số tiền 385.000 đồng. Bà Nguyễn Thị A trả được 1.540.000 đồng, còn nợ lại 770.000 đồng, bà Nguyễn Thị A có ký tên vào biên nhận. Vào ngày 18/11/2016, bà Nguyễn Thị A có mua 01 điện thoại di động hiệu Coolpad cho con trai là Hoàng Chí N sử dụng với giá 5.990.000 đồng, yêu cầu trả góp hàng tháng. Thỏa thuận góp trong thời gian 08 tháng, mỗi tháng góp số tiền 870.000 đồng. Như vậy, bà Nguyễn Thị A phải trả là 6.960.000 đồng, bà Nguyễn Thị A có ký tên vào biên nhận. Như vậy, tổng cộng hai lần mua điện thoại bà Nguyễn Thị A còn nợ ông tổng số tiền là 7.760.000 đồng. Từ khi mua điện thoại còn nợ đến nay bà Nguyễn Thị A không trả và cứ hứa hẹn, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Bà Nguyễn Thị A mua điện thoại cho bà và con trai bà sử dụng, ông Hoàng Gia C là chồng bà Nguyễn Thị A nên cả ba người phải có trách nhiệm trả tiền cho ông. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N liên đới trả số tiền còn nợ là 7.760.000 đồng.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không cung cấp lời khai chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N cùng trả tiền từ việc bà Nguyễn Thị A có mua điện thoại còn nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N.
[2]. Xét về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Việt S xác định bà Nguyễn Thị A có thỏa thuận mua điện thoại cho bà Nguyễn Thị A và con trai là Hoàng Chí N sử dụng còn nợ của ông tổng số tiền là 7.760.000 đồng. Từ đó, có căn cứ xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự.
[3]. Về nội dung: Ông Nguyễn Việt S xác định là ông đã thỏa thuận mua bán đối với bà Nguyễn Thị A. Vào ngày 13/9/2015, bà Nguyễn Thị A có mua 01 điện thoại di động hiệu Mobistar giá 1.650.000 đồng, yêu cầu trả góp hàng tháng. Thỏa thuận góp trong thời gian 06 tháng, mỗi tháng góp số tiền 385.000 đồng. Bà Nguyễn Thị A trả được 1.540.000 đồng, còn nợ lại 770.000 đồng, bà Nguyễn Thị A có ký tên vào biên nhận. Vào ngày 18/11/2016, bà Nguyễn Thị A có mua 01 điện thoại di động hiệu Coolpad cho con trai là Hoàng Chí N sử dụng với giá 5.990.000 đồng, yêu cầu trả góp hàng tháng. Thỏa thuận góp trong thời gian 08 tháng, mỗi tháng góp số tiền 870.000 đồng. Như vậy, bà Nguyễn Thị A phải trả là 6.960.000 đồng, bà Nguyễn Thị A có ký tên vào biên nhận. Như vậy, tổng cộng hai lần mua điện thoại bà Nguyễn Thị A còn nợ ông tổng số tiền là 7.760.000 đồng. Từ khi mua điện thoại còn nợ đến nay bà Nguyễn Thị A không trả và cứ hứa hẹn, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Bà Nguyễn Thị A mua điện thoại cho bà và con trai bà sử dụng, ông Hoàng Gia C là chồng bà Nguyễn Thị A nên bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N phải có trách nhiệm trả tiền cho ông Nguyễn Việt S theo nội dung đơn khởi kiện.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông Nguyễn Việt S đã cung cấp nội dung nhận nợ ngày 13/9/2015 và ngày 18/11/2016 có nội dung bà Nguyễn Thị A có nợ tiền mua điện thoại và bà Nguyễn Thị A có ký tên như nội dung ông Nguyễn Việt S yêu cầu.
[4]. Đối với bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp và cũng không có yêu cầu phản tố. Do bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận mà bà Nguyễn Thị A đã ký kết nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S và buộc bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N cùng phải trả toàn bộ số tiền từ việc mua bán còn nợ là 7.760.000 đồng cho ông Nguyễn Việt S là có cơ sở.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N cùng phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng các điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N cùng trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 7.760.000 đồng (bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N cùng phải chịu 388.000 đồng (ba trămtám mươi tám nghìn đồng).
Ông Nguyễn Việt S được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011523 ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Việt S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị A, ông Hoàng Gia C và ông Hoàng Chí N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Phòng KTNV&THA; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Phước |