- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành T và bà
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/DS-PT Ngày: 28 – 7 – 2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các Thẩm phán:
Ông Võ Công Phương.
Bà Võ Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phương Thủy là Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2020/TLPT-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2020/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Bình Định, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 104/2020/QĐXXPT-
DS ngày 06 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Th, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn (khu phố) C, xã (phường) H, huyện (thị xã) H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Võ Thành T, sinh năm 1965.
Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Thôn (khu phố) H, xã (phường) H, huyện (thị xã) H, tỉnh Bình Định.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Thành T và bà Nguyễn Thị G, trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lý Th, trình bày:
Ngày 30/01/2019 ông Võ Thành T, bà Nguyễn Thị G mượn của bà số
tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), không thỏa thuận lãi suất và hẹn sau hai ngày sẽ trả hết số tiền đã mượn nhưng đến hạn mà ông T, bà G không trả cho bà. Thời gian qua, bà đã nhiều lần yêu cầu ông T, bà G trả cho bà số tiền đã mượn nhưng vẫn không trả. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà G phải trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi chậm trả nợ gốc theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Võ Thành T, bà Nguyễn Thị G đã được Tòa án tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng và giấy báo phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2020/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Th. Buộc ông Võ Thành T, bà
Nguyễn Thị G trả cho bà Lý Th số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) tiền nợ gốc và 54.861.000 đồng tiền lãi.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và
quyền kháng cáo của các bên đương sự.
- Ngày 09/4/2020 bị đơn ông Võ Thành T và bà Nguyễn Thị G, kháng
cáo Bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên Tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên kháng cáo với nội dung như trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng,
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị HĐXX không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự
được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
Xét nội dung kháng cáo của ông Võ Thành T và bà Nguyễn Thị G,
thấy rằng:
Ông T, bà G kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm và cho
rằng Ông Bà không nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện H. Hội đồng xét xử xét thấy: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã thể hiện Tòa án nhân dân huyện H đã triệu tập ông T, bà G đến Tòa để Ông Bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Tòa án nhưng Ông Bà không đến. Do đó, Tòa án tiến hành các thủ tục cấp tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Như vậy, việc ông T và bà G cho rằng Ông Bà không nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện H trong vụ kiện do bà Lý Th khởi kiện Ông Bà tại Tòa án là không có căn cứ.
Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 30/01/2019 và đơn kháng cáo
ngày 09/4/2020 (BL 102) của ông T, bà G cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông T, bà G thừa nhận có mượn của bà Th 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) hiện nay chưa trả. Như vậy, án sơ thẩm xử buộc ông T bà G phải trả cho bà Th 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) tiền gốc và số tiền lãi 54.861.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 469 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên Tòa phúc thẩm ông T, bà G không xuất trình được tài liệu,
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của Ông Bà là có căn cứ. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Ông T, bà G, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc ông Võ Thành T và bà Nguyễn Thị G cùng phải chịu 26.194.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đồng)
Hoàn trả lại cho bà Lý Th 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tiền
tạm ứng án phí bà Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00054 ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H (nay là thị xã H).
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành
T và bà Nguyễn Thị G không được chấp nhận nên ông T bà G cùng phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về
việc giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Võ Thành T bà Nguyễn Thị G, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 469, Điều 468 Bộ luật Dân sự;
khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành T và bà
Nguyễn Thị G.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2020/DS-ST ngày 27 tháng
3 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Định.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Th. Buộc ông Võ Thành T và
bà Nguyễn Thị G phải trả cho bà Lý Th số tiền gốc 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và tiền lãi 54.861.000 đồng (Năm mươi bốn nghìn tám trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Tổng cộng 554.861.000 đồng (Năm trăm năm mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thành T và bà Nguyễn Thị G cùng
phải chịu 26.194.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho bà Lý Th 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tiền
tạm ứng án phí bà Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00054 ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Thành T và bà Nguyễn Thị G cùng
phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T, bà G đã nộp theo biên lai thu tiền số 00097 ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khác khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND thị xã H; - CCTHADS thị xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Đỗ Thị Thắm |