- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu G phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH ******** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67 /2019/HSST Ngày 19/4/2019 - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Xuân Toàn. 2. Ông Đỗ Đức Hùng. Sơn, tỉnh Bắc Ninh. phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên. xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2019/HSST ngày 04/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67 /2019/QĐXXST-HS ngày 08/4/2019 đối với bị cáo: Trần Hữu G, sinh năm 1979 tại Bắc Ninh. sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1947; Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Đinh Thị Th, sinh năm 1984; Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017. nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt G 06 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 16/09/2011, G chấp hành xong hình phạt tù. Hiện G chưa chấp hành khoản tiền án phí và tịch thu sung công quỹ số tiền 19.070.000 đồng. Tiền sự: Không. giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên toà). Bị hại: Anh Chu Văn Minh, sinh năm 1968. Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt). |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hữu G là người không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Khoảng 21 giờ ngày 16/01/2019, Giáp đi xe bus từ bến xe Gia Lâm, Hà Nội về đến bến xe thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi xuống xe, G đi bộ lang thang trên đường với mục đích xem có ai sơ hở thì chiếm đoạt tài sản mang bán lấy tiền ăn tiêu. Vào lúc 22 giờ 50 phút cùng ngày, G đi đến trước cửa hàng đồ gỗ Minh Khánh của anh Chu Văn Minh ở số nhà 466, khu phố Minh Khai, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì thấy cửa nhà mở, ngay cửa ra vào có dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave sơn màu xanh, biển kiểm soát 99F6-9943, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra đường tỉnh lộ 295B, xe không khóa cổ, khóa càng, xung quanh không có người đi lại. Thấy điều kiện sơ hở, G đến vị trí chiếc xe gạt chân chống rồi dắt lùi chiếc xe ra đường và đi về hướng siêu thị Từ Sơn. Khi đó anh Đỗ Viết Cường là hàng xóm nhà anh Minh ngồi uống nước cùng anh Minh ở gần đó nhìn thấy Giáp dắt xe ở cửa hàng nhà anh Minh ra liền hỏi anh Minh là nhà chú có ai đi xe à, anh Minh nói không có ai đi và quay ra thì nhìn thấy có người dắt xe nhà mình, nên đã cùng anh Cường đuổi theo và hô trộm. Cùng lúc đó có lực lượng cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ gần đó nghe thấy tiếng hô, nên đã đuổi theo và bắt giữ G cùng chiếc xe mô tô của anh Minh và đưa về trụ sở Công an thị xã Từ Sơn để giải quyết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 17/01/2019 của Hội đồng định giá thường xuyên - Ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn kết luận: Một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, sản xuất năm 2002, xe đã qua sử dụng có giá trị là 4.200.000 đồng.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 01/02/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Minh chiếc xe mô tô. Nay anh Minh không yêu cầu G phải bồi thường gì.
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 60/CT - VKS ngày 03/4/2019 của Viện kiểm sát nhân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Trần Hữu G về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý với kết quả định giá chiếc xe mô tô như kết luận của Hội đồng định giá. Mục đích của bị cáo chiếm đoạt xe mô tô của anh Minh là để bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Bị cáo nhận thức rõ và thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại là anh Chu Văn Minh vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra anh Minh trình bày nội dung sự việc anh bị mất chiếc xe mô tô giống như nội dung bản cáo trạng và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Anh đã nhận lại chiếc xe này và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn sau khi phân tích, đánh giá tính chất, nguyên nhân, động cơ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hữu G phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo G từ 10 tháng tù đến 13 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Kh«ng đặt ra giải quyết.
Sau khi nghe bản luận tội, bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, cùng thời gian, địa điểm phạm tội cũng như lời khai của bị hại, người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ. Nên đã có đủ cơ sở để kết luận: Lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của anh Chu Văn Minh ở số nhà 466, khu phố Minh Khai, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 16/01/2019, Trần Hữu G có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave sơn màu xanh, biển kiểm soát 99F6-9943 của anh Chu Văn Minh đang dựng trước cửa nhà. Giá trị chiếc xe mô tô trên theo kết luận của Hội đồng định giá là 4.200.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo Trần Hữu G đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang cho người có tài sản, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải được xét xử kịp thời để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét tính chất của vụ án thì thấy: Đây là vụ án tuy có tính chất ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo phạm tội ở nơi dân cư đông đúc, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo tuổi đời không còn trẻ, có đủ khả năng nhận thức, nhưng không chịu rèn luyện, nghề nghiệp không ổn định, thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học để răn mình mà tiếp tục phạm tội. Bản thân bị cáo là người ham chơi, đua đòi, lười lao động. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu sài.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, vì năm 2006 bị cáo đã bị kết án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Nhưng khi lượng hình cũng xét tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác. Do vậy, không xem xét giải quyết phần dân sự trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Hữu G 12 ( Mƣời hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2019.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 69/2019/HSST-QĐTG ngày 19/4/2019 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Hữu G phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND TX Từ Sơn; - Công an TX Từ Sơn; - Chi cục THADS TX Từ Sơn; - Những người TGTT; - Lưu HS, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |