vanban.org

Bản án 67/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội “Giết người”.

của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Võ Văn Vũ L 18 (mười tám) năm tù. Th i hạn tù tính từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Vũ L - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2019/HS-ST
Ngày: 20/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Ng n

Thẩm phán: Ông Phan Văn Liệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hoàng Điệp

2/ Ông Phạm C ng Nhân

3/ Ông Nguyễn Thành Châu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng - Cán bộ Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2019/HSST,

ngày 18/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 772/2019/QĐXXST-

HS, ngày 22/02/2019 đối với bị cáo:

Võ Văn Vũ L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1999 tại tỉnh An Giang;

Thư ng trú: Ấp A, x B, huyện C, tỉnh D; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ

học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con

ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị P; Hoàn cảnh gia đình: Chưa c vợ, con;

Tiền án, tiền sự: kh ng;

Bị tạm gi , tạm giam ngày: 23/8/2018- C mặt.

Nh ng ngư i tham gia tố tụng khác:

- Người bị hại:

Ông Nguyễn H u N; Sinh năm: 1996 (đ chết)

- Đại diện hợp pháp của người bị hại:

Ông Nguyễn H u T; Sinh năm: 1964.

Bà Thạch Thị Sà R; Sinh năm: 1964.

C ng thư ng trú: 869/9 An Nghiệp, x E, huyện F, tỉnh I.

Là cha mẹ của ngư i bị hại Nguyễn H u N - C mặt.

- Người bào chữa:

Ông Nguyễn Văn Tài là luật sư của Văn phòng luật sư Mai Trung Tín

thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào ch a chỉ định cho bị cáo Võ Văn Vũ L - C mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được t m tắt như sau:

Võ Văn Vũ L, Võ Văn T, Võ Văn Vũ L2, Võ Văn D, Lê Văn B, Đặng

Ngọc S, Tiền Thiện T và Nguyễn H u N là nh ng công nhân cùng làm tại Xưởng nước đá Trương Nguyễn (địa chỉ: C5/10 ấp 4A, x Bình Hưng, Bình Chánh). Khoảng 21 gi 20 phút, ngày 22/8/2018, L2 đi mua 04 trứng vịt lộn để L, T, L2 và B c ng ăn. Sau khi mua về, L2 để trứng vịt lộn trên bàn gỗ phía trước xưởng rồi vào trong làm nước đá. Khi làm xong, cả nh m đi ra thì thấy trên bàn bị mất 03 trứng. Thấy N đang ngồi uống rượu một mình và nghĩ là N đ ăn trứng vịt lộn, nên T đến hỏi nhưng N kh ng thừa nhận. Sau đ , L đi ra ngoài mua thêm 15 trứng vịt lộn n a để ăn c ng với L2, T, L, B, S và Tâm. Trong lúc mọi ngư i đang ngồi ăn, N đến chỗ T, tay phải cầm một lưỡi kéo đưa vào nách T và n i “thằng nào đụng đến tao thì tao đâm”. Do thấy N đ say xỉn, nên T bảo N vào trong ngủ và mọi ngư i cũng đứng dậy tiếp tục đi làm. Riêng L thấy trước đây cứ mỗi khi say xỉn thì N hay đi gây sự với mọi ngư i, nên đi vào phòng nghỉ lấy trong ba lô một con dao bấm dài khoảng 25cm cất vào túi quần, đi ra phía trước xưởng để đề phòng nếu N có gây sự.

Lúc này, N vào bên trong khu phòng nghỉ của công nhân kêu D ra ngoài

và gây sự với D. N lấy 01 cái ghế nhựa màu xanh đánh vào ngư i D nhiều cái làm gãy ghế. Thấy vậy, T chạy đến can ngăn, còn D d ng tay đánh lại một cái vào mặt N rồi bỏ chạy. N liền cầm theo lưỡi kéo đuổi đánh D, nhưng kh ng kịp nên quay lại xưởng, thì gặp L đang đứng ở cửa ra vào và tiếp tục gây sự. N cầm phần lưỡi kéo đánh một cái bằng cán cây kéo vào đầu của L rồi quay ngư i đi, lưng hướng về phía L. Tức giận vì bị đánh, L lấy con dao bấm trong túi quần, cầm bằng tay phải đâm liên tiếp 04 cái vào v ng lưng, làm N ngã xuống bất tỉnh. Sau đ , L đi vào trong nói cho mọi ngư i trong xưởng biết vừa đâm N, rồi vào nhà vệ sinh bỏ con dao xuống lỗ thoát nước. Nguyễn H u N được đưa đến bệnh viện Quận 8 cấp cứu nhưng sau đ đ tử vong.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1075/TT.18 ngày 03/10/2018

của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn H u N là do “Đa vết thương do bị đâm gây thủng phổi, đứt gan, thận gây choáng mất máu cấp. Nồng độ Ethanol trong máu cao”.

C ng văn số: 1075 - GT/TT.18 ngày 12/11/2018 của Trung tâm pháp y

Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh giải thích về cơ chế hình thành vết thương của nạn nhân Nguyễn H u N, thì:“Các vết thương vùng lưng của Nguyễn Hữu N do vật sắc nhọn gây ra. Con dao bấm bằng kim loại như mô tả và chụp ảnh

trong công văn có thể tạo ra được các vết thương vùng lưng của Nguyễn Hữu

N”.

Vật chứng vụ án:

+ 01 cái ba l màu đỏ, đen.

+ 01 cái quần Jean màu xanh.

+ 01 cái áo thun ngắn tay màu đen, trước ngực áo có ghi ch FILA.

+ 01 lưỡi kéo dài khoảng 21cm.

+ 01 cái ghế nhựa màu xanh bị gãy.

+ 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 25cm.

+ 01 mẫu máu nạn nhân Nguyễn H u N.

+ 01 mẫu máu thu tại hiện trư ng.

Về dân sự:

Bà Thạch Thị Sà R là mẹ ruột của ngư i bị hại Nguyễn H u N yêu cầu

được bồi thư ng số tiền 120.000.000 đồng, trong đ chi phí mai táng là

70.000.000 đồng, tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 34/CT-VKS-P2, ngày 16/01/2019 của Viện kiểm sát

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đ truy tố bị cáo Võ Văn Vũ L về tội “Giết

ngư i” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa

đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gi nguyên quan

điểm truy tố đối với bị cáo Võ Văn Vũ L đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau

khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm

tội của bị cáo gây ra, nêu lên nh ng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự đ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội: “Giết ngư i”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của

Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Võ Văn Vũ L từ 18 (mư i tám) năm t đến 20 (hai mươi)

năm tù.

Về dân sự

Ông Nguyễn H u T và bà Thạch Thị Sà R là cha mẹ ruột của ngư i bị

hại Nguyễn H u N yêu cầu được bồi thư ng tổng số tiền 100.000.000 đồng.

Gia đình bị cáo Võ Văn Vũ L đ bồi thư ng cho ông T và bà R số tiền

50.000.000 đồng.

Về vật chứng

Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào ch a cho bị cáo Võ Văn Vũ L thống nhất với đại diện Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần tội danh. Tuy nhiên, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử bị cáo L là quá nặng. Trong vụ án, ngư i bị hại Nguyễn H u N vô cớ lấy cái ghế nhựa đánh vào ngư i anh D nhiều cái làm gãy ghế. Sau khi anh D bỏ chạy, ngư i bị hại liền cầm theo lưỡi kéo đuổi đánh D, nhưng kh ng kịp nên quay lại xưởng thì gặp L đang đứng ở cửa ra vào và tiếp tục gây sự và cầm phần lưỡi kéo đánh một cái bằng cán cây kéo vào đầu của bị cáo nên bị cáo mới bị kích động về mặt tinh thần do hành vi trái pháp luật của ngư i bị hại gây ra. Khi đâm xong anh N thì bị cáo nói với anh T đưa anh N đi bệnh viện. Ngoài ra, bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đ bồi thư ng một phần thiệt hại. Vì vậy, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áo dụng điểm a, b, e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo L mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị.

Viện kiểm sát tranh luận: hành vi của ngư i bị hại là có một phần lỗi

nhưng chưa đến mức làm cho bị cáo L tinh thần bị kích động mạnh, khi anh N đánh bị cáo thì anh N cũng đ cầm lưỡi kéo trong tay và chỉ dùng cán kéo đánh vào đầu bị cáo. Khi đâm anh N xong thì mọi ngư i tại xưởng nước đá đều biết nên việc bị cáo nói với anh T đưa anh N đi bệnh viện không thuộc trư ng hợp ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát gi nguyên mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo L.

Bị cáo không bổ sung nội dung bào ch a của luật sư.

L i nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đ được thẩm tra tại phiên tòa; căn

cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, ngư i bào ch a và nh ng ngư i tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố

Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào ch a cho bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ ph hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố

tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Văn Vũ L khai nhận về hành vi phạm

tội do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh đ truy tố. Xét l i khai của bị cáo tại phiên tòa

hôm nay là phù hợp với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn

được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như

các biên bản ghi l i khai, biên bản hỏi cung, biên bản nhận dạng, biên bản gi

ngư i, biên bản khám nghiệm hiện trư ng, biên bản khám nghiệm tử thi. Hội

đồng xét xử c đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Võ Văn Vũ L có hành vi dùng con dao bấm đâm 04 nhát trúng

ngư i bị hại Nguyễn H u N, cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của ngư i

bị hại Nguyễn H u N. Vì vậy, hành vi của bị cáo Võ Văn Vũ L đ phạm vào

tội: “Giết ngư i”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 123 của Bộ luật

hình sự năm 2015 đ được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà khoảng 21 gi 20

phút, ngày 22/8/2018, tại địa chỉ C5/10 ấp 4A, x Bình Hưng, huyện Bình

Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, khi ngư i bị hại Nguyễn H u N uống rượu

rồi gây sự đánh nhau với mọi ngư i trong xưởng nước đá thì bị cáo Võ Văn Vũ

L đ chuẩn bị trước một con dao bấm dài khoảng 25cm cất vào túi quần. Ngay

sau khi bị N gây sự dùng cán kéo đánh vào đầu bị cáo L thì bị cáo đ lấy dao

chuẩn bị sẵn đâm 04 nhát vào ngư i của ngư i bị hại Nguyễn H u N khi ngư i

bị hại đ xoay lưng về phía bị cáo gây thủng phổi, đứt gan, thận, gây choáng

mất máu cấp dẫn đến tử vong. Vì vậy, bị cáo đ phạm vào tội “Giết ngư i”

thuộc trư ng hợp “c tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123

của Bộ luật hình sự năm 2015 đ được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn Vũ L là đặc biệt nguy hiểm cho xã

hội, đ xâm phạm trực tiếp đến khách thể quan trọng được luật hình sự ưu tiên

bảo vệ nghiêm ngặt đ là tính mạng, sức khỏe của c ng dân, nhưng bị cáo đ

tước đi quyền sống của ngư i khác một cách trái pháp luật. Vì vậy, để gi gìn

kỷ cương pháp luật, để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mọi ngư i, để củng cố

niềm tin của nhân dân thì cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm

khắc, đúng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đ gây ra

mới đạt được mục đích giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn

xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan

điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị

cáo đ bồi thư ng một phần thiệt hại, ngư i bị hại cũng c một phần lỗi nhưng

chưa đến mức vi phạm pháp luật. Do đ , bị cáo được hưởng các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của

Bộ luật hình sự năm 2015 đ được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa ng Nguyễn H u T và bà Thạch Thị Sà R là đại diện cho

gia đình ngư i bị hại yêu cầu bồi thư ng tổng số tiền là: 100.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Võ Văn Vũ L đ bồi thư ng cho ông T và bà R số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền 50.000.000 đồng còn lại bị cáo Võ Văn Vũ L đồng ý bồi thư ng. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận gi a các bên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) cái ba l màu đỏ, đen; 01 (một) cái quần Jean màu

xanh; 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đen, trước ngực áo có ghi ch FILA thu gi của bị cáo L; 01 (một) lưỡi kéo dài khoảng 21cm; 01 (một) cái ghế nhựa màu xanh bị gãy; 01 (một) con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 25cm; 01 (một) mẫu máu nạn nhân Nguyễn H u N; 01 (một) mẫu máu thu tại hiện trư ng là tang vật của vụ án và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51

của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Võ Văn Vũ L 18 (mười tám) năm tù. Th i hạn tù tính từ

ngày: 23/8/2018.

- Áp dụng Điều 41; khoản 1, khoản 2 Điều 42 Bộ luật hình sự và căn cứ

Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Võ Văn Vũ L phải bồi thư ng cho ng Nguyễn H u Thành

và bà Thạch Thị Sà Ra số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) ba l màu đỏ, đen.

+ 01 (một) quần Jean màu xanh.

+ 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đen, trước ngực áo có ghi ch

FILA.

+ 01 (một) lưỡi kéo dài khoảng 21cm.

+ 01 (một) cái ghế nhựa màu xanh bị gãy.

+ 01 (một) con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 25cm.

+ 01 (một) mẫu máu nạn nhân Nguyễn H u N.

+ 01 (một) mẫu máu thu tại hiện trư ng.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số: 200/19 ngày 06 tháng 3 năm

2019 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và

300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng hợp cơ

quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ

ngày c đơn thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền

phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các

khoản tiền phải thi hành, ngư i phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi

quá hạn là 10%/năm.

Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9

Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của ngư i bị hại c quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ