- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lại Tiến Tùng và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN THÁI THỤY CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2019/HS-ST Ngày 01/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Toàn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân K, ông Hoàng Văn Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Toà án ND huyện Thái Thụy.
Đại diện VKSND huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2019 đối với: * Các bị cáo: 1. Họ và tên: LẠI TIẾN T - Sinh năm 1986;
Nơi cư trú: Xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lại Văn S và bà Lại Thị M.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Năm 2010 bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2019 đến ngày 10/5/2019.
- Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
2. Họ và tên: NGUYỄN VĂN K - Sinh năm 1995;
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Con ông Nguyễn Văn H và bà Đinh Thị G.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2019. (có mặt) * Bị hại: Công ty cổ phần cơ khí xây dựng A.
Địa chỉ: Xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Tổng giám đốc. (vắng mặt) * Người làm chứng: Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1963, Trú tại thôn L, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 16/11/2018, Lại Tiến T, Nguyễn Văn K cùng Đinh Công M, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Tiến D, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình và Trần Thái P, sinh năm 1981, trú tại thôn M, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình ngồi chơi tại bãi phế liệu của T ở thôn M, xã L, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T nói với M “về lấy xe lôi đi chở sắt phế liệu”. M hiểu ý T là đi trộm cắp phế liệu. M điều khiển chiếc xe môtô Exciter màu xanh, biển kiểm soát 29Y2 – 138.88 chở D, K về nhà M lấy 1 xe lôi tự chế ra buộc vào đuôi xe môtô của M rồi điều khiển xe chở D, K kéo theo xe lôi đến khu vực cổng Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 chờ T. Khoảng 1 giờ ngày 17/11/2018, T điều khiển xe môtô Sirius màu đen chở P, sau xe có kéo theo 1 xe lôi tự chế. Tại đây, T chỉ tay vào đống phế liệu của công ty A nói với M, D, K “Tôn ở kia chúng mày lấy đi, anh bốc sắt, chúng mày bốc tôn”. M, T cùng tháo xe lôi buộc sau xe môtô của mình rồi kéo đến đống phế liệu, còn D đứng ngoài cảnh giới. Sau khi M, K bốc được 14 tấm tôn màu xanh lên xe thì M kéo xe lôi, K đẩy phía sau đến chỗ xe môtô của M thì bị ông N, là bảo vệ của nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 phát hiện hô không được lấy. D điều khiển xe chở M kéo theo xe lôi chở tôn chạy về hướng xã Thái Thọ, K quay lại chỗ T, P. Lúc này T, P đã bốc được 8 thanh xà gồ bằng sắt hình chữ V lên xe lôi của T. Khi nghe tiếng hô, T kéo xe lôi, P, K đẩy phía sau đến vị trí xe môtô của T, T điều khiển xe môtô chở P ngồi sau kéo xe lôi chở sắt chạy về hướng xã Thái Thọ, K chạy bộ theo sau. Khi chạy được khoảng 500m thì bị lực lượng công an bảo vệ trung tâm điện lực Thái Bình phát hiện nên M, D đã bỏ xe lôi chở tôn lại, chạy về khu chợ mới xã Mỹ Lộc. T và P cũng bỏ xe lôi chở sắt lại rồi chạy về bãi phế liệu của T. Tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản quản lý 2 xe lôi và toàn bộ số tôn và sắt trên xe chuyển cho Công an huyện Thái Thụy.
Tại bản án số 30/2019/HSST ngày 04/5/2019 Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đã xét xử các bị cáo Đinh Công M, Nguyễn Tiến D và Trần Thái P, xử lý trách nhiệm dân sự và một phần vật chứng. T và K sau khi gây án đã bỏ trốn. Ngày 05/4/2019 K bị bắt, ngày 11/4/2019 T bị bắt.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03 ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thái Thụy kết luận: 14 tấm tôn màu xanh, kích thước mỗi tấm dài 5,34m, rộng 1,07m đã qua sử dụng. Tổng trọng lượng 280kg trị giá 2.520.000 đồng. 8 thanh xà gồ bằng sắt hình chữ V, kích thước 5x5cm, dài 5m và 5 đoạn sắt hộp vuông kích thước 3x3cm, dài 5,45m đã qua sử dụng, tổng trọng lượng 520kg trị giá 3.790.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.316.000 đồng.
Quá trình điều tra, T và K đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số tài sản các bị cáo chiếm đoạt cho bị hại - Công ty cổ phần cơ khí xây dựng A, bị hại đã nhận đủ, không yêu cầu, đề nghị gì.
Bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 18/6/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố các bị cáo Lại Tiến T và Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lại Tiến T từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn K mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 1 xe lôi tự chế của T.
Các bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.
Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Đơn trình báo và lời khai của đại diện bị hại; Báo cáo nội dung sự việc của Đồn công an bảo vệ điện lực Thái Bình; Các biên bản thu giữ, quản lý vật chứng; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường; Các biên bản nhận dạng và bản ảnh nhận dạng; Bản kết luận định giá tài sản số 03 ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thái Thụy; Đơn trình báo, lời khai của người làm chứng - ông Trịnh Văn N cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Các bị cáo đều là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo đều nhận thức được việc thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tài sản do các bị cáo chiếm đoạt có giá trị 6.316.000 đồng.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu và tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.
[5] Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[6] Đây là vụ đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo K là người thực hành nên có vai trò sau T.
[7] Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo K phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[8] Bị cáo T có nhân thân xấu, bị cáo K tuy có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng sau khi gây án đã bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã nên cần áp dụng mức hình phạt cho cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Các bị cáo đều không có công việc ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong tại bản án số 30/2019
/HSST ngày 04/5/2019 Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình.
[10] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius T sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp, T khai đã bán cho một người đàn ông không quen biết ở chợ Sắt, thành phố Hải Phòng nên cơ quan điều tra không thu giữ được. Chiếc xe lôi tự chế T làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[11] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, không phải chịu án phí dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Các bị cáo Lại Tiến T và Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lại Tiến T 1 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2019 đến ngày 10/5/2019.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 6 (sáu) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/4/2019.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 1 chiếc xe lôi tự chế của bị cáo T sung vào công quỹ Nhà nước. (Chiếc xe lôi có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2019 tại Chi cục thi hành án huyện Thái Thụy).
5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/
2016 về án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo Lại Tiến T, Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, với các bị cáo tính từ ngày tuyên án 01/8/2019, với bị hại tính từ ngày Tòa tống đạt hợp lệ bản án./. Nơi nhận:
| - Người tham gia tố tụng; - VKSND Thái Thụy; - Trại tạm giam Thái Bình; - Công an Thái Thụy; - Chi cục THADS Thái Thụy; - Tòa án ND tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu HCTP; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lưu Toàn Nghĩa |