- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Minh H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 14/6/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2019/HS-ST Ngày 19-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tảo;
2. Ông Trần Văn Dân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Minh H, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Võ Thị Phương T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/6/2019 đến nay, có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1969; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L1, xã L2, huyện L3, tỉnh Tây Ninh; hiện cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Thanh M được thuê trông giữ vườn bưởi tại ấp T1, xã T2, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Khoảng 14 giờ 00 ngày 05/6/2019, Lê Minh H điều khiển xe mô tô hiệu Jupiter, biển số 70H1-058.24 đến vườn bưởi gặp ông M để uống rượu, sau khi uống rượu khoảng 30 phút, thì ông M nghỉ uống để đi làm ngoài vườn và nói H ngồi chờ ông M làm xong vào uống rượu tiếp. Do thường xuyên đến chơi với ông M nên H biết ông M thường để bóp tiền trong cốp xe môtô loại Wave màu xanh, biển số 38K1-38.98 và có cắm sẵn chìa khóa, dựng trong nhà. Biết ông M đang làm ngoài vườn không để ý, H lấy chìa khóa xe, mở cốp lấy 01 cái bóp màu đen bằng vải bên trong có 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng và giấy đăng ký xe mô tô của ông M, H lấy tiền trong bóp rồi vứt cái bóp xuống suối gần đó.
Sau khi lấy được tiền, H sợ bị phát hiện nên điều khiển xe mô tô đi đến vườn cao su cách đó 500m, lấy 3.000.000 (ba triệu) đồng giấu bên lề đường, dùng 02 viên gạch ống đặt lên trên, còn 500.000 (năm trăm nghìn) đồng giấu trong nón bảo hiểm. Sau đó, H điều khiển xe quay lại chỗ ông M giả vờ nói nhìn thấy có người nhặt được bóp tiền của ông M. Ông M vào kiểm tra thì phát hiện bóp tiền đã bị mất. Nghi ngờ H trộm cắp tiền của mình nên ông M báo Công an xã T2, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Qua làm việc, H đã khai nhận việc trộm cắp tiền của ông M và chỉ chỗ cất giấu số tiền đã trộm để Công an xã T2 thu hồi.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng thu giữ và kết quả xử lý vật chứng:
- Vật chứng thu giữ gồm:
+ Tiền Việt Nam 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng;
+ 01 điện thoại di động Nokia, số Imei: 356853070061348, số Imei 2: 356853070061355 và 01 sim Viettel số 8984048000037323960 của bị cáo Lê Minh H.
- Kết quả xử lý vật chứng: Ngày 09/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 38 trả lại số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng cho ông Nguyễn Thanh M.
* Đối với cái bóp và giấy đăng ký xe sau khi trộm cắp có được H đã vứt bỏ xuống suối không xác định được vị trí cụ thể nên không truy tìm được.
* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh Lê Minh H không có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không tiến hành kê biên.
* Trách nhiệm dân sự:
- Ông Nguyễn Thanh M đã nhận lại số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng, đối với chiếc bóp và giấy đăng ký xe do không có giá trị nên ông M không yêu cầu, bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Minh H.
Bản cáo trạng số 67/QĐ/KSĐT, ngày 08 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Minh H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo Lê Minh H 01 điện thoại di động Nokia, số Imei1: 356853070061348, số Imei 2: 356853070061355 và 01 sim Viettel số 8984048000037323960.
* Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự: Ghi nhận bị hại ông Nguyễn Thanh M đã nhận lại số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng và không yêu cầu bị cáo H bồi thường thiệt hại.
Bị cáo Lê Minh H thừa nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Minh H xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 05/6/2019, tại vườn bưởi ông Nguyễn Thanh M được thuê trông giữ thuộc ấp T1, xã T2, huyện C, tỉnh Tây Ninh bị cáo Lê Minh H đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng của ông Nguyễn Thanh M để trong cốp xe Wave màu xanh biển số 38K1-38.98, hành vi của bị cáo Lê Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên Bản cáo trạng số 67/QĐ/KSĐT ngày 08/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo là người có sức khỏe và khả năng lao động, có đủ khả năng nhận thức để điều khiển hành vi của mình nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nhưng lại không muốn lao động chân chính nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử bị cáo mức hình phạt nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Minh H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại ông Nguyễn Thanh M có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt chính: Cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Lê Minh H để đảm bảo tính răn đe, giáo dục của pháp luật đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo H bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xử lý vật chứng:
- Ngày 09/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 38 trả lại số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng cho ông Nguyễn Thanh M là đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết.
- 01 điện thoại di động Nokia, số Imei: 356853070061348, số Imei 2: 356853070061355 và 01 sim Viettel số 8984048000037323960 của bị cáo Lê Minh H không liên quan đến việc phạm tội, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Lê Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Minh H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 14/6/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tạm giữ của bị cáo Lê Minh H 01 điện thoại hiệu Nokia, số Imei1: 356853070061348, số Imei 2: 356853070061355 và 01 sim Viettel số 8984048000037323960.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2019).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Lê Minh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Lê Minh H được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại ông Nguyễn Thanh M vắng mặt có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - THA pha ̣t tù; - Phòng PV06-Công an Tây Ninh; - Đội điều tra CA huyê ̣n Tân Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Nguyên |