- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A Mang- Tàng trữ trái pháp chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mùa A M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mùa A M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 7 năm 2019 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA –––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2019/HS-ST Ngày 18 -10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lý Thị Dung, ông Thào A Trư
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở UBND xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Mùa A M, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1978 tại Phù Yên – Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: H’Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mùa A Sềnh (đã chết); con bà: Sồng Thị Dua; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 7 năm 2019 đến nay, “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Cầm Trọng Thủy, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Vàng Thị Chu, sinh năm 1980, nơi cư trú: Bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người phiên dịch: ông Cầm Đình Cốc, nơi cư trú: tiểu khu 9, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 14/7/2019, trên đường đi từ bản Suối Khang đến bản Trò, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên bị cáo Mùa A M gặp và mua của người phụ nữ lạ mặt, dân tộc H’Mông 01 gói ma túy với giá 50.000đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất giấu vào giá để hàng phía trước của xe mô tô rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến khu vực bản Lũng Khoai A, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên thì bị Công an phát hiện bắt giữ.
Tại biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định xác định (Bút lục số 06): Vật chứng thu giữ của Mùa A M là 01 gói chất nhựa màu đen có tổng khối lượng là 3,46 gam. Cơ quan điều tra đã lấy 3,46 gam (ký hiệu M) gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1270 ngày 17/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận (Bút lục số 07): Mẫu gửi giám định ký hiệu C1 là ma túy, loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 3,46 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,46 gam, loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận của Cơ quan điều tra và của Phòng kỹ thuật hình sự nêu trên.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 68/CT – VKS - PY ngày 02/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Mùa A M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Mùa A M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Mùa A M đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A M từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy nilon gói ma túy, phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người phạm tội quả tang. Trả cho chị Vàng Thị Chu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave S, Biển kiểm soát 26D1- 174.50.
Trong phần đối đáp, bị cáo Mùa A M nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh bị cáo là người dân tộc ít người, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để quyết định mức hình phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Vàng Thị Chu trình bày ý kiến xác nhận chiếc xe mô tô là tài sản và phương tiện lưu thông chung của gia đình. Bị cáo tự ý sử dụng làm phương tiện đi tìm mua ma túy, chị Chu không được biết. Chị Chu đề nghị được nhận lại chiếc điện xe mô tô nêu trên.
Kết thúc tranh luận, bị cáo nói sau cùng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Mùa A M khai nhận hành vi cất giữ Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện) mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vận dụng tinh thần tiểu mục 3.1, mục 3, phần II của Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì “Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này”.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;”.
Kết quả cân tịnh và giám định vật chứng xác định: Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,46 gam, loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện). Như vậy, hành vi cất giữ trái phép 3,46 gam Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện) nhằm mục đích để sử dụng của Mùa A M đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.
Bị cáo là người dân tộc ít người, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, làm nghề lao động tự do, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,…” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn (Bút lục số 42). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với nilon gói ma túy, phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người phạm tội quả tang, xác định là vật chứng, vật không có giá trị. Căn cứ vào Điều 89, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô, xác định là tài sản chung của gia đình bị cáo và vợ là chị Vàng Thị Chu. Xác định chị Chu không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử cần trả lại cho chị Chu chiếc xe nêu trên.
Đối với người phụ nữ lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người phụ nữ đó ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý.
Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Mùa A M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mùa A M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 7 năm 2019 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy nilon gói ma túy và phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người phạm tội quả tang (đựng trong phong bì do Công an huyện Phù Yên niêm phong). Trả lại cho chị Vàng Thị Chu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave S, Biển kiểm soát 26D1- 174.50, số máy 628618, số khung 638577.
3. Về án phí: Bị cáo Mùa A M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/10/2019). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |