vanban.org

Bản án 67/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị K’ Thị P. Chị K’ Thị P được ly hôn anh Hoàng Việt H.

2/ Về con chung: Giao 01 con tên K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017 cho chị P được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Việt H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi tên K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017 mỗi tháng 1.000.000đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đến t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "P-H"
  • Tòa quyết gì? 1/Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị K’ Thị P. Chị K’ Thị P được ly hôn anh Hoàng Việt H.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2019/ HNGĐ – ST
Ngày: 08 - 10 - 2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh.

2/ Bà Lê Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc , tỉnh Bình Thuận.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 284/2019/TLST – HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019. Về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá 67/2019/QÑXXST– HNGÑ ngaøy 04/9/2019; Quyết định Hoãn phiên tòa số 57/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/9/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị K’ Thị P - Sinh năm 1997.

Bị đơn : Anh Hoàng Việt H – Sinh năm 1995. Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 23/5/2019 và tại bản khai, nguyên đơn chị K’ Thị P trình bày: Chị với anh H cưới nhau vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H. Việc vợ chồng chung sống với nhau là do hai bên tự tìm hiểu, thời gian tìm hiểu là 01 năm. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chị tại thôn 1, xã Đ, huyện H, tỉnh B. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng về sau anh H thường xuyên nhậu say sỉn rồi về nhà kiếm chuyện chửi bới chị, sau đó anh H bỏ về nhà anh ở luôn. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 02/2019 cho đến nay, trong thời gian này anh H không một lần đến thăm vợ con hay hỏi han gì cả, vợ chồng không có liên lạc gì với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho chị được ly hôn với anh H .

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017. Hiện con đang ở với chị P .

Khi ly hôn chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được quyền tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nơi ở của anh H để tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh H cố tình lẫn tránh. Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định pháp luật, anh H vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghieân cöùu các tài liệu chứng cứ có trong hoà sô, được thaåm tra tại phiên tòa, nghe tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Chị K’Thị P yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Việt H và yêu cầu giải quyết về con chung. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Anh Hoàng Việt H có hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện H1. Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét bị đơn anh Hoàng Việt H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh H .

Về nội dung:

Về Hôn nhân: Chị P và anh H cưới nhau vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H , tỉnh Bình Thuận. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chị P . Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được gần 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống hàng ngày anh H thường xuyên đi sớm về khuya, có khi vắng nhà thời gian dài, chị nói thì anh H đánh chị. Đến tháng 02/2019 thì anh H bỏ đi nơi khác sống không về nhà với chị nữa và vợ chồng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn anh H . Sau khi Toøa aùn thụ lý giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa để hòa giải, nhưng anh H cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do, nên Tòa không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tình cảm giữa chị P với anh H không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy yêu cầu được ly hôn của chị P là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017. Khi ly hôn chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được quyền tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu của chị P thấy rằng hiện nay cháu T còn rất nhỏ cần được sự chăm sóc của chị P và từ khi anh H bỏ đi cháu T vẫn sống ổn định với chị P . Vì vậy yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị P là hoàn toàn phù hợp, đúng pháp luật.

Về phần cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên Tòa chị P yêu cầu cấp dưỡng nuôi con K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017 theo quy định của pháp luật. Xét thấy Theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn Nhân gia đình quy định“Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng” và tại Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định “Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng được xác định căn cứ vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để đảm bảo cuộc sống của người được cấp dưỡng”. Như vậy, việc chị P yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp. Căn cứ theo tình hình mức chi phí sinh hoạt tại địa phương và hiện nay chị P cũng không cung cấp được chứng cứ thể hiện mức thu nhập của anh H . Do vậy, nên buộc anh H cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng là 1.000.000đồng cho đến khi cháu T đến tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Về tài sản và nợ: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị K’ Thị P được miễn án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017, về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới của Thủ tướng Chính phủ.

Anh Hoàng Việt H không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh Hoàng Việt Hùng phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 9, các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 107, 116, 117 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 146, Khoản 4 Điều 147, Điều 207, Khoản 2 Điều 227, 228 Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017; Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên Xử:

1/Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị K’ Thị P. Chị K’ Thị P được ly hôn anh Hoàng Việt H.

2/ Về con chung: Giao 01 con tên K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017 cho chị P được quyền tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Việt H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi tên K’ Hoàng T - sinh ngày 30/6/2017 mỗi tháng 1.000.000đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đến tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Anh H được quyền trông nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

“ Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

3/ Veà taøi saûn và nợ: Không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí: Chị K’ Thị P không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị P được miễn án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017, về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới của Thủ tướng Chính phủ.

Hoàn trả cho chị P 300.000đ do chị P đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026781 ngày 29/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

Anh Hoàng Việt H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Anh Hoàng Việt H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (Phần cấp dưỡng nuôi con).

Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án sơ thẩm.

Báo cho bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ