- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy D và bị đơn ông Đỗ Văn P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20-11-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Tín
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trực
Ông Phạm Hùng Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Sương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 129/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thùy D, sinh năm: 19xx
Địa chỉ: Thôn X, xã D, huyện D.K, Khánh Hòa; có mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn P, sinh năm: 19xx
Địa chỉ: Thôn X, xã D, huyện D.K, Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy D trình bày:
Bà và ông Đỗ Văn P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Xuân năm 2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng về nhà cha mẹ của bà ở xã Diên Xuân để sinh sống; mối quan hệ giữa vợ chồng diễn ra bình thường. Đến năm 2017, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không còn hạnh phúc, nguyên nhân là do ông P thường xuyên ăn nhậu, không chăm lo cho gia đình; hay ghen tuông vô cớ, có lời lẽ xúc phạm và có lần đánh bà. Bà đã khuyên can và bỏ qua cho ông P rất nhiều lần nhưng ông P không thay đổi làm cho cuộc sống của vợ chồng luôn căng thẳng. Tháng 6/2019, ông P đã bỏ về nhà mẹ ruột của ông sinh sống cho tới nay; giữa bà và ông P không còn quan tâm đến nhau; mỗi người tự lo cuộc sống riêng. Khi nộp đơn khởi kiện ly hôn đến Tòa án, bà có báo cho ông P biết nhưng ông P nói không quan tâm. Hiện nay, bà xác định vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.
Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung là Đỗ Thị Trúc N, sinh ngày 15/9/20xx, Đỗ Thị Thanh Th, sinh ngày 02/01/20xx và Đỗ Thị Thanh T, sinh ngày 02/01/20xx; hiện cả 03 con chung đang sinh sống cùng với bà. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung. Hiện tại bà có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung, không có nợ chung.
- Bị đơn ông Đỗ Văn P vắng mặt, không có lời khai.
- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; bị đơn không có lời khai, không đến Tòa án làm việc.
Về nội dung: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đương sự tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị Thùy D. Giao các con chung cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà D tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Bà D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét. Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Đỗ Văn P tham gia phiên tòa nhưng ông P vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử.
. Về quan hệ hôn nhân:
. Ngày 10/11/2003, bà Đỗ Thị Thùy D và ông Đỗ Văn P đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 32/2003, quyển số: 01/2002; đây là hôn nhân hợp pháp.
. Bà Đỗ Thị Thùy D xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không thể hàn gắn; hiện tại, bà D không còn tình cảm với ông P; không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Thực tế, vợ chồng bà D và ông P đã không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2019 đến nay; mỗi người tự lo cuộc sống riêng của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông P đến Tòa án để làm việc liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tham gia phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, nhưng ông P đều không đến, không có lời khai và tại phiên tòa ông P cũng vắng mặt không lý do. Điều này thể hiện việc ông P có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không muốn hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.
. Về con chung: Theo Giấy khai sinh của Đỗ Thị Trúc N, sinh ngày 15/9/20xx, Đỗ Thị Thanh Th, sinh ngày 02/01/20xx, Đỗ Thị Thanh T, sinh ngày 02/01/20xx thể hiện các cháu N, Th, T là con của bà D và ông P. Hiện nay, các cháu đang sống với bà D. Bà D có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con. Quá trình giải quyết vụ án, các cháu N, Th và T đều có lời khai là muốn được cùng sống chung với bà D. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu cần giao các cháu cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà D tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Do bị đơn ông P chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
. Về án phí: Nguyên đơn bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Đỗ Thị Thùy D được ly hôn ông Đỗ Văn P.
2. Về con chung:
2.1. Giao con chung là Đỗ Thị Trúc N, sinh ngày 15/9/20xx, Đỗ Thị Thanh Th, sinh ngày 02/01/20xx và Đỗ Thị Thanh T, sinh ngày 02/01/20xx cho bà Đỗ Thị Thùy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà Đỗ Thị Thùy D tự nguyện không yêu cầu ông Đỗ Văn P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đỗ Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2.2. Quá trình nuôi con chung, bà Đỗ Thị Thùy D, ông Đỗ Văn P có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đỗ Thị Thùy D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Do bị đơn ông Đỗ Văn P chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Đỗ Thị Thùy D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Đỗ Thị Thùy D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0002749 ngày 27/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Bà Đỗ Thị Thùy D đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị Thùy D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Đỗ Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Diên Khánh; - Chi cục THADS huyện Diên Khánh; - UBND xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh (nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trung Tín |