- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Mộng L đối với anh Lê Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/8/2019 V/v “Yêu cầu ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Chí Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thức
2. Ông Trần Văn Chu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Là thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ L số: 248/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 về việc “yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 47/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Mộng L, sinh năm 2000 (có mặt).
Địa chỉ: ấp A1, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A1, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, chị Ngô Thị Mộng L trình bày:
Chị và anh Lê Văn H cưới nhau năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (huyện B – tỉnh Bến Tre) ngày 09/4/2019, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H xem thường chị, hay chửi mắng và đánh chị nên chị đã về nhà cha mẹ ruột từ tháng 4 năm 2019 đến nay. Trong thời gian chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống thì anh H cũng không tới lui để tạo cơ hội hàn gắn nên hiện nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn với anh H, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H.
Về con chung: Hiện chị đang mang thai được 08 tháng tuổi.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: Không có.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2019 của Tòa án, anh Lê Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Ngô Thị Mộng L cưới nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào năm 2019 nhưng anh không nhớ ngày tháng nào. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị L nghe lời cha mẹ ruột, chị L làm gì cũng không hỏi ý kiến của anh nên chị L đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống cách nay 03 tháng. Trong thời gian sống ly thân, anh và chị L cũng không liên lạc với nhau, không còn quan tâm nhau nữa. Nay anh không còn tình cảm với chị L nhưng anh không đồng ý ly hôn vì anh con.
Về con chung: Chị L đang mang thai được 6 tháng tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H. Về con chung: hiện chị L đang mang thai được 08 tháng tuổi. Tài sản chung, nợ chung: không có.
Từ các lời trình bày trên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, đề nghị của kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án tống đạt triệu tập tham dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh H đều vắng mặt không có L do. Do đó, vụ án đưa ra xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại các điều 227, 228 BLTTDS.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Mộng L và anh Lê Văn H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L và anh H sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh H chửi mắng và đánh đập chị nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2019 đến nay. Khi sống ly thân, anh chị cũng không có tới lui để tạo cơ hội hàn gắn. Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn với anh H và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Anh Lê Văn H vẫn biết việc chị L xin ly hôn với anh và tại biên bản lấy lời khai của Tòa án thì anh H cũng cho rằng không còn tình cảm với chị L. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chi L và anh H là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị L với anh H là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Hiện chị L đang mang thai được 08 tháng tuổi.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Ngô Thị Mộng L phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Mộng L đối với anh Lê Văn H.
2. Về con chung: Hiện chị L đang mang thai được 08 tháng tuổi.
3. Về tài sản chung: không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Ngô Thị Mộng L phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002038 ngày 27/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí hôn nhân, chị L đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho chị Ngô Thị Mộng L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng anh Lê Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - TAND tỉnh Bến Tre; - UBND xã A, huyện B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Vũ |