vanban.org

Bản án 67/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ L. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ L - Khổng Văn S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2019/HNGĐ-ST
Ngày 21 tháng 10 năm 2019
“Không công nhận quan hệ vợ
chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P- TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Văn An.

2. Bà Đoàn Thị Bích Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Ngày 21 tháng 10 năm 2019 tại Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 641/2019/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2019 về việc: “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/10/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn 01, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Khổng Văn S, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn 01, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 21 tháng 8 năm 2019, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Khổng Văn S chung sống với nhau năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, bà và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông S hay uống say về nhà chửi, xúc phạm bà và các con. Bà và gia đình đã nhiều lần khuyên, động viên ông S có cam đoan nhưng vẫn không thay đổi. Đến năm 2014 mâu thuẫn căng thẳng bà và ông S đã ly thân. Hiện bà không còn tình cảm với ông S nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông S.

Về con chung: Bà và ông S có 03 con chung là cháu Khổng Kỳ L, sinh ngày 02/7/1997; Khổng Kỳ D, sinh ngày 06/10/1998 và Khổng Kỳ T, sinh ngày 30/10/2006. Cháu L và D đã trưởng thành và có khả năng lao động, đối với cháu T bà có nguyện vọng được nuôi cháu T và không yêu cầu yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà và ông S tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Khổng Văn S, tại bản tự khai, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa ông trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ L chung sống từ năm 1995 không có đăng ký kết hôn. Thời gian sống chung không có hạnh phúc. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết, ông đồng ý không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà L.

Về con chung: Ông và bà L có 03 con chung là cháu Khổng Kỳ L, sinh ngày 02/7/1997; Khổng Kỳ D, sinh ngày 06/10/1998 và Khổng Kỳ T, sinh ngày 30/10/2006. Cháu L và D đã trưởng thành và có khả năng lao động, còn cháu T ông thống nhất giao bà L trực tiếp chăm sóc việc cấp dưỡng nuôi cháu T để ông và bà L tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông và bà L tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Đơn trình bày ghi ngày 07/10/2019, cháu Khổng Kỳ T có nguyện vọng ở với bà Nguyễn Thị Mỹ L khi ba mẹ không sống chung với nhau.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Đơn khởi kiện; Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Mỹ L, Giấy chứng minh nhân dân mang tên Khổng Văn S, Giấy chứng minh nhân dân mang tên Khổng Kỳ L, Giấy chứng minh nhân dân mang tên Khổng Kỳ D; Giấy khai sinh của Khổng Kỳ T; Sổ hộ khẩu gia đình mang tên chủ hộ Khổng Văn S; Bản tự khai của bà Nguyễn Thị Mỹ L; Bản tự khai của ông Khổng Văn S; Đơn trình bày của cháu Khổng Kỳ T; Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 07/10/2019; Biên bản hòa giải ngày 07/10/2019;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Mỹ L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu không yêu cầu công nhận quan hệ vợ chông và giải quyết nuôi con với ông Khổng Văn S, đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ L được làm theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý, xem xét; bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S đều cư trú tại thành phố Pleiku, nên Tòa án nhân dân thành phố P có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp không hợp pháp. Cả bà L và ông S đều thừa nhận cuộc sống chung của đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của bà L là chính đáng, được chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S có 03 con chung là cháu Khổng Kỳ L, sinh ngày 02/7/1997; Khổng Kỳ D, sinh ngày 06/10/1998 và Khổng Kỳ T, sinh ngày 30/10/2006. Cháu L và D đã trưởng thành và có khả năng lao động, bà L có nguyện vọng được nuôi cháu T.

Yêu cầu nuôi con của bà L được ông S đồng ý và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ L, giao cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Khổng Kỳ T, cho đến khi cháu T thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ L.

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S.

- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Khổng Kỳ T, sinh ngày 30/10/2006 cho đến khi cháu T thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định thay đổi mức cấp dưỡng.

- Về nợ chung và nghĩa vụ chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khổng Văn S tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001885 ngày 03/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; Bà Nguyễn Thị Mỹ L đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ