vanban.org

Bản án 67/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 của Quốc hội;

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Huỳnh Thùy T và anh Nguyễn Hồ H l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thùy Tr và Nguyễn Hồ Hậu"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 của Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị T; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 67/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 9 - 2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHẤN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Thạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Dũng Phương;

2. Ông Trịnh Ngọc Thành.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 360/2019/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 10/9/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Huỳnh Thùy T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Tổ 13, ấp BM, xã PT, huyện TP, Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hồ H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp 3, xã PĐ, huyện TP, tỉnh ĐN.

(Chị T, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của chị T trong quá trình tố tụng tại Tòa án thể hiện:

Chị và anh Nguyễn Hồ H tự nguyện tìm hiểu yêu thương rồi tiến tới chung sống với nhau vào năm 2012. Tuy nhiên, vợ chồng anh chị không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên lục đục, cự cãi. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hồ H.

Về con chung: Chị và anh H có 01 (một) con chung là Trần H, sinh ngày 26/4/2013. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh H không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Theo lời trình bày của anh H trong quá trình tố tụng tại Tòa án thể hiện:

Anh và chị Trần Huỳnh Thùy T tự nguyện tìm hiểu yêu thương rồi tiến tới chung sống với nhau vào năm 2012. Tuy nhiên, vợ chồng anh không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên lục đục, cự cãi. Nay tình cảm không còn nên anh đồng ý ly hôn chị Trần Huỳnh Thùy T.

Về con chung: Anh và chị T có 01 (một) con chung là Trần H, sinh ngày 26/4/2013. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu H cho chị T nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị T đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Đơn khởi kiện, Sổ hộ khẩu thường trú của chị T, anh H (bản sao); Giấy chứng minh nhân dân của chị T, anh H (bản sao); Giấy khai sinh (bản sao). Bản sao các tài liệu, chứng cứ này Tòa án đã gửi cho bị đơn.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Bản tự khai của nguyên đơn; bị đơn; Biên bản xác minh về con chung của các đương sự. Tòa án đã ra thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự biết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị T, anh H là vợ chồng vì anh chị không đăng ký kết hôn.

+ Về quan hệ nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh H có 01 (một) con chung là Trần H, sinh ngày 26/4/2013. Giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh H không yêu cầu giải quyết.

+ Về án phí: Chị T phải chịu tiền 300.000đ án phí DSST về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, chị T, anh H vắng mặt do anh chị có đơn xin xét xử vắng mặt nên các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 3, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H, tranh chấp về nuôi con vì vậy cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

. Xác định tư cách đương sự: Ngày 26/7/2019, chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị T là nguyên đơn, anh H là bị đơn trong vụ án.

- Tại phiên tòa chị T, anh H vắng mặt. Chị T, anh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về áp dụng pháp luật nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh H tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân của anh chị hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình của anh chị không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh H, anh H cũng đồng ý ly hôn.

Tuy nhiên, do anh chị sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị không đảm bảo về việc đăng ký kết hôn mà khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân – Gia đình 2014 quy định. Nay chị T có yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 để tuyên bố không công nhận anh chị là vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục cấp, tống đạt: Thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự và các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp cũng như Tòa án thu thập được cho các bên đương sự. Tòa án đã thông báo và mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Chị T, anh H không có ý kiến gì và không bổ sung gì thêm.

. Về quan hệ nuôi dưỡng con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T, anh H có 01 (một) con chung là Trần H, sinh ngày 26/4/2013. Chị T, anh H đã thỏa thuận và thống nhất giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nhận thấy cần giữ nguyên nếp sống sinh hoạt hiện nay của cháu nhằm đảm bảo ổn định tâm lý cho cháu nên chấp nhận nguyện vọng nuôi con của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác

. Về tài sản chung: Chị T, anh H kê khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

. Về nợ chung: Chị T, anh H kê khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về ly hôn.

[4]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

- Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 của Quốc hội;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Huỳnh Thùy T và anh Nguyễn Hồ H là vợ chồng.

- Về con chung: Chị T, anh H có 01 (một) con chung là Trần H, sinh ngày 26/4/2013.

Giao cho chị Trần Huỳnh Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần H. Tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

2. Về án phí: Chị Trần Huỳnh Thùy T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí DSST về ly hôn. Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 008417 ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú chuyển thành án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ