vanban.org

Bản án 67/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái K phạm tội: “Cướp tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Thái K 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/12/2017. Lưu tại hồ sơ vụ án: 01 mảnh giấy có chữ in mực đỏ “Hợp đồng cầm đồ-hiệu cầm đồ Xuân T, địa chỉ: Tổ 71, Cẩm T, Cẩm P, Quảng N có nội dung bằng mực in than ghi tên người cầm đồ là K”; 01 giấy hợp đồng cầm đồ hiệu Xuân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái Khiêm - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái K phạm tội: “Cướp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/HS-ST
Ngày 30/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, tØnh Qu¶ng Ninh

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Chiến

Bà Nguyễn Thị Thúy

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Phạm Bích Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2018/QĐXXST-HS ngày 11/5/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thái K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/02/1993 tại thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 18, khu Đông H 2, phường Cẩm Đ, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H; vợ Nguyễn Thị Thủy G; có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 26/12/2017, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm P, có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Hải S, sinh năm 1991; trú tại: Tổ 3, khu Bắc S 2, phường Cẩm S, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Bùi Văn T;

2. Chị Nguyễn Thị Thủy G.

(Đều vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/12/2017, Nguyễn Thái K đi bộ từ nhà đem theo 01 con dao bầu có mũi nhọn (kích thước dài khoảng 35cm đến 40cm, cán dao dài khoảng 15 cm, lưỡi dao dài khoảng 20cm đến 25cm) giấu trong túi phải áo khoác đang mặc, mục đích để cướp tài sản lấy tiền ăn tiêu. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/12/2017, K đi đến đoạn ngã tư Quốc lộ 18A giao với đường Thành Đ, phường Cẩm B, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, thì thấy anh Lê Hải S (trú tại: tổ 3, khu Bắc S, phường Cẩm S, thành phố Cẩm P) điều khiển xe taxi hãng Mai L đi đến. K nảy sinh ý định cướp tài sản của anh S. K vẫy xe của anh S dừng lại rồi lên xe ngồi ở hàng ghế phía sau ghế lái và bảo anh S chở đến nhà nghỉ 868 thuộc tổ 5, khu Hòa L, phường Cẩm B, thành phố Cẩm P. Khi đến nhà nghỉ 868, K không vào mà bảo anh S tiếp tục lái xe đi lòng vòng đến một số nhà nghỉ trên địa bàn thành phố Cẩm P, mục đích tìm nơi vắng vẻ, không có người qua lại để thực hiện việc cướp tài sản. Đến khoảng 0 giờ 10 phút ngày 26/12/2017, khi đi đến đoạn đường liên khu thuộc tổ 3, khu 6C, phường Cẩm T, thành phố Cẩm P, thấy xung quanh vắng vẻ, K bảo anh S dừng xe lại và tính tiền. Khi anh S bật đèn trần xe chuẩn bị tính tiền, thì K dùng tay trái túm áo anh S kéo ghì cổ giật lại phía sau, đồng thời dùng tay phải lấy con dao bầu trong túi áo khoác kề vào cổ bên phải anh S đe dọa: “Im mồm đi, chốt cửa lại, tắt đèn trần xe”. Anh S làm theo yêu cầu, thì K nói: “Tao đang bị truy nã, tao chỉ cần tiền chứ không cần mạng mày, đưa hết tiền và điện thoại đây”. Anh S sợ, nên đã lấy 01 ví da (trong ví có 965.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 02 Dollar Mỹ, 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Hải S) ở cánh cửa xe bên lái và 01 chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2 đưa cho K. Sau khi lấy được tài sản, K mở cửa xe tẩu thoát. Đến khoảng 13 giờ ngày 26/12/2017, K đi đến hiệu cầm đồ Xuân T gặp anh Bùi Văn T là chủ hiệu, cầm cố chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2 được 600.000 đồng. Sau khi bị cướp tài sản, anh S đã đến công an thành phố Cẩm P trình báo.

Ngày 26/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt khẩn cấp Nguyễn Thái K, thu giữ của K 03 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 02 Dollar Mỹ và 01 hợp đồng cầm đồ điện thoại tại hiệu cầm đồ Xuân T.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P thu giữ tại hiệu cầm đồ Xuân T 01 chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2 và 01 hợp đồng cầm đồ điện thoại tại hiệu cầm đồ Xuân T.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 08/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ASUS ZENFONE2, đã qua sử dụng có giá 800.000 đồng.

Tại Thông báo kết quả giám định tiền ngoại tệ số 104 ngày 11/01/2018, của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Cẩm P thể hiện: 03 tờ tiền ngoại tệ thu giữ của Nguyễn Thái K là ngoại tệ Dollar Mỹ (ký hiệu/mã ngoại tệ: USD); Mệnh giá tờ tiền: 02 USD (Two Dollars); Số lượng: 03 tờ; Cả 03 tờ tiền được xác định là tiền thật; Tổng giá trị 03 tờ tiền là 06 USD; Tổng giá trị quy đổi 03 tờ tiền ngoại tệ USD sang VNĐ là: 06 USD x 22.570 đồng = 135.420 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thái K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Số tiền chiếm đoạt của anh S và số tiền cầm cố điện thoại K đã ăn tiêu hết. Đối với 01 con dao bầu K sử dụng để cướp tài sản và 01 chiếc ví da (trong ví còn 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Hải S), K khai đã vất đi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P đã trả lại cho anh Lê Hải S 03 tờ tiền mệnh giá 02 Dollar Mỹ và 01 chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2. Đối với chiếc ví da bên trong có 965.000 đồng và các giấy tờ cá nhân bị mất, anh S đã được gia đình K bồi thường số tiền 10 triệu đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thái K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố đối với bị cáo về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan.

Bị hại anh Lê Hải S có lời khai tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/5/2018 là phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Thái K, ngoài ra anh S còn khai: Khi cướp tài sản của tôi, Nguyễn Thái K cầm con dao, loại dao bầu dài khoảng 35-40cm, cán dao dài khoảng 15cm, mũi dao nhọn dài khoảng 20-25cm, lưỡi dao đã han gỉ, không sắc. Tài sản của tôi bị Nguyễn Thái K cướp là 01 điện thoại di động nhãn hiệu ASUS Zenfone2 màu đen; một ví da bên trong có khoảng hơn 950.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 02 dollar Mỹ, 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe hạng B2 đều mang tên Lê Hải S. Tôi đã được cơ quan điều tra trả lại điện thoại và 03 tờ tiền dollar Mỹ, gia đình Nguyễn Thái K đã bồi thường cho tôi số tiền 10 triệu đồng để hỗ trợ làm lại giấy tờ và bồi thường tổn thất tinh thần, tôi không có yêu cầu bồi thường khác, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho Nguyễn Thái K.

Người làm chứng anh Bùi Văn T có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 26/12/2017, có một thanh niên (sau này biết tên là Nguyễn Thái K) đến hiệu cầm đồ Xuân T của tôi nói muốn cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ASUS ZENFONE2, màu đen đã qua sử dụng. Tôi kiểm tra máy và hỏi máy của ai thì Nguyễn Thái K nói là máy điện thoại của Nguyễn Thái K. Tôi đồng ý cầm cố máy với giá 600.000 đồng và tháo 02 sim điện thoại trong máy đưa lại cho Nguyễn Thái K rồi viết hợp đồng cầm cố từ ngày 26/12/2017 đến ngày 06/01/2018, tôi đưa cho Nguyễn Thái K một bản hợp đồng viết giấy than và đưa tiền cho Nguyễn Thái K. Đến 14 giờ cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P đã đến hiệu cầm đồ của tôi thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ASUS ZENFONE2, màu đen và giấy hợp đồng cầm đồ hiệu Xuân T, có tên người cầm đồ là K, có tôi (T) ký tên xác nhận; tiếp đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, tôi đã đến Công an thành phố Cẩm P giao nộp 01 USB loại 8GB màu đỏ có lưu trữ hình ảnh Nguyễn Thái K đến hiệu cầm đồ của tôi cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ASUS ZENFONE2, màu đen vào hồi từ 13 giờ đến 13 giờ 25 phút ngày 26/12/2017. Hiện gia đình Nguyễn Thái K đã trả cho tôi số tiền 600.000 đồng là tiền tôi đã cầm cố điện thoại cho Nguyễn Thái K, tôi không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị Thủy G có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Khoảng hơn 19 giờ ngày 25/12/2017, tôi thấy anh Nguyễn Thái K mặc áo phao màu nâu, quần bò đen, đi dép màu xanh có chữ adidas về nhà và đi vào bếp lấy con dao loại dao bầu của gia đình giấu trong áo phao rồi chạy ra ngoài lên một chiếc xe mô tô chờ sẵn rồi đi đâu thì tôi không rõ. Con dao bầu anh Nguyễn Thái K lấy đi ngày 25/12/2017, dài khoảng 30-35cm, cán dao dài khoảng 10cm, lưỡi dao dài khoảng 20-25cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao hình bầu đã han gỉ. Từ khi anh Nguyễn Thái K về nhà lấy dao đi thì không thấy anh Nguyễn Thái K về nhà.

Bản cáo trạng số: 62/CT-VKSCP ngày 09/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố bị cáo Nguyễn Thái K về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thái K về tội: “Cướp tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 168; ®iểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái K từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu xanh có chữ Adidas đã qua sử dụng. Đối với: 01 mảnh giấy có chữ in mực đỏ “Hợp đồng cầm đồ- hiệu cầm đồ Xuân T, địa chỉ: Tổ 71, Cẩm T, Cẩm P, Quảng N có nội dung bằng mực in than ghi tên người cầm đồ là K”; 01 giấy hợp đồng cầm đồ hiệu Xuân T, có họ tên người cầm đồ là K, có ký tên xác nhận của anh T và 01 USB loại 8GB màu đỏ đã qua sử dụng đều là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Thái K không tranh luận vấn đề gì với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P. Bị cáo Nguyễn Thái K thấy ân hận với hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội để cải tạo tốt, thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thái K; bị hại anh Lê Hải S và những người làm chứng anh Bùi Văn T, chị Nguyễn Thị Thủy G đều không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị hại anh Lê Hải S có đơn xin xử án vắng mặt, người làm chứng Bùi Văn T, chị Nguyễn Thị Thủy G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, ý kiến của bị hại anh Lê Hải S và người làm chứng anh Bùi Văn T, chị Nguyễn Thị Thủy G nên việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của họ trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thái K: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại anh Lê Hải S, người làm chứng anh Bùi Văn T, chị Nguyễn Thị Thủy G và còn phù hợp với các chứng cứ sau: Biên bản về việc bắt người vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 26/12/2017 (bút lục 16); kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2018 (bút lục 31); biên bản niêm phong vật chứng vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 26/12/2017 (bút lục 36); biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định hồi 9 giờ ngày 11/01/2018, công văn số: 0104/BIDV.CP-GDKH ngày 11/01/2018 của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cẩm P v/v giám định tiền ngoại tệ (bút lục 37, 38); biên bản xác định địa điểm xảy ra vụ án hồi 17 giờ 30 phút ngày 26/12/2017 và bản ảnh xác định địa điểm xảy ra vụ án (bút lục 43 đến 45); biên bản tiếp nhận đồ vật, tài liệu hồi 14 giờ 20 phút ngày 26/12/2017, biên bản thu giữ vật chứng hồi 14 giờ ngày 26/12/2017 và bản ảnh vật chứng (bút lục 46 đến 48); biên bản tiếp nhận và tạm giữ đồ vật, tài liệu hồi 19 giờ 30 ngày 26/12/2017 và bản ảnh vật chứng (bút lục 49, 50); biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 15 giờ ngày 26/12/2017, sơ đồ hiện trường và bản ảnh khám nghiệm hiện trường (bút lục 51 đến 57); biên bản thực nghiệm điều tra hồi 14 giờ ngày 27/12/2017 và bản ảnh thực nghiệm điều tra (bút lục 58 đến 71); các biên bản truy tìm vật chứng ngày 27/12/2017 (bút lục 72, 73); các biên bản tiếp nhận ảnh ngày 26/12/2017, bản ảnh nhận dạng và các biên bản nhận dạng ngày 26/12/2017, 12/01/2018 và 18/01/2018 (bút lục 74 đến 83) và biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu hồi 14 giờ ngày 26/01/2018 (bút lục 101) cùng với các tài liệu khác cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ 10 phút ngày 26/12/2017, tại đoạn đường liên khu thuộc tổ 3, khu 6C, phường Cẩm T, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, Nguyễn Thái K có hành vi dùng dao bầu kề vào cổ anh Lê Hải S khống chế, đe dọa, chiếm đoạt của anh Lê Hải S 01 chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2 trị giá 800.000 đồng và 01 chiếc ví da, trong ví có 965.000 đồng, 03 tờ tiền có mệnh giá 02 Dollar Mỹ. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Thái K chiếm đoạt của anh Lê Hải S là 1.900.240 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thái K thực hiện tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 còn hiệu lực, được truy tố, xét xử tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực và quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có lợi đối với tội danh bị cáo Nguyễn Thái K đã phạm. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo Nguyễn Thái K đã phạm tội: “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thái K là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P đối với bị cáo Nguyễn Thái K.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thái K tuy chưa xâm phạm tính mạng, sức khỏe của bị hại anh Lê Hải S nhưng đã làm cho bị hại anh Lê Hải S lâm vào tình trạng không thể chống cự được phải giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bị cáo là đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo người đã trưởng thành nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã chuẩn bị vũ khí là dao bầu và chọn đối tượng là lái xe taxi để yêu cầu chở bị cáo đi đến nhiều nơi và khi đến nơi vắng người thì bị cáo khống chế, đe dọa làm cho người lái xe taxi không còn khả năng chống cự và phải giao tài sản cho bị cáo như đã nêu trên. Hành vi dùng dao để khống chế, đe dọa để chiếm đoạt tài sản là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;...”. Việc bị phát hiện xử lý là ngoài ý muốn của bị cáo nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thái K thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự; đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, bị cáo đã tác động để gia đình bị cáo bồi thường cho bị hại phần nào khắc phục được hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 và áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, để xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt... thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật nhưng dù có xem xét đến đâu thì việc bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Thái K phạm tội lần đầu nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về phần bồi thường dân sự: Quá trình điều tra đã thu giữ được 03 tờ tiền mệnh giá 02 Dollar Mỹ và 01 chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2. Quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại anh Lê Hải S. Đối với chiếc ví da bên trong có 965.000 đồng và các giấy tờ cá nhân của bị hại anh Lê Hải S, bị bị cáo Nguyễn Thái K chiếm đoạt không thu hồi được, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại anh Lê Hải S số tiền 10.000.000 đồng, bị hại anh Lê Hải S không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề cập.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình bắt khẩn cấp đối với bị cáo Nguyễn Thái K và quá trình điều tra đã thu giữ số vật chứng như đã nêu trên. Đối với 03 tờ tiền mệnh giá 02 Dollar Mỹ và 01 chiếc điện thoại ASUS ZENFONE2, đã trả lại cho bị hại anh Lê Hải S nên không đề cập; đối với 01 mảnh giấy có chữ in mực đỏ “Hợp đồng cầm đồ- hiệu cầm đồ Xuân T, địa chỉ: Tổ 71, Cẩm T, Cẩm P, Quảng N có nội dung bằng mực in than ghi tên người cầm đồ là K”; 01 giấy hợp đồng cầm đồ hiệu Xuân T, có họ tên người cầm đồ là K, có ký tên xác nhận của anh T và 01 USB loại 8GB màu đỏ đã qua sử dụng đều là tài liệu hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu trữ tại hồ sơ vụ án; đối với 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng và 01 đôi dép màu xanh có chữ Adidas đã qua sử dụng, bị cáo đã mặc và đeo đi thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/12/2017. Quá trình điều tra đã thu giữ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo xác định chiếc quần bò và đôi dép nêu trên đều không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 con dao bầu, bị cáo K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và 01 chiếc ví da trong ví còn 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Hải S, là tài sản bị cáo K chiếm đoạt được của bị hại anh Lê Hải S. Bị cáo K khai đã vất đi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên không đề cập.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thái K, bị hại Lê Hải S có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 168; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái K phạm tội: “Cướp tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Thái K 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/12/2017.

Căn cứ: Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Lưu tại hồ sơ vụ án: 01 mảnh giấy có chữ in mực đỏ “Hợp đồng cầm đồ-hiệu cầm đồ Xuân T, địa chỉ: Tổ 71, Cẩm T, Cẩm P, Quảng N có nội dung bằng mực in than ghi tên người cầm đồ là K”; 01 giấy hợp đồng cầm đồ hiệu Xuân T, có họ tên người cầm đồ là K, có ký tên xác nhận của anh T và và 01 USB loại 8GB màu đỏ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng và 01 đôi dép màu xanh có chữ Adidas đã qua sử dụng.

(Vật chứng tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 108/BB-THA ngày 23/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm P).

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thái K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm cã mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ