- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đức T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2018/HS-PT Ngày 08-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Quốc Việt.
Các Thẩm phán:
1. Ông Phạm Trung Dũng;
2. Ông Đào Đức Thiện.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Huỳnh Hùng Cường- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 05 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2018/HSPT ngày 04 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Đặng Đức T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo không có kháng cáo: Đặng Đức T, sinh năm:1997, tại Bà Rịa – Vũng Tàu – ( Có mặt )
HKTT: Tổ X, ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Đ. Đ. T. và bà Ng. T N; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày: 13/10/2017 (có mặt).
Người bào chữa: Ông Nguyễn Đình T- Luật sư, thuộc công ty TNHH một thành viên Cộng Hòa-Đoàn luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt)
Bị hại không có kháng cáo: Ông H. M. S., sinh năm: 1986 ; HKTT: tổ 1, ấp Khu 1, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (không triệu tập)
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h00 ngày 07/7/2017 trong lúc ngồi nhậu ở nhà anh T, trong lúc nhậu thì B và S nảy sinh mâu thuẫn đánh nhau. Ông S chạy xuống bếp nhà anh T lấy 01 chai nhựa đánh lại Nguyễn V. B (là bác của bị cáo T), để bênh vực cho ông B, T liền lấy 01 dao phay để trên thùng giấy dưới kệ bếp và đứng lên chém 01 nhát vào khuỷu tay phải của S. S được mọi người đưa Sử đi cấp cứu, còn T bỏ trốn đến ngày 15/7/2017 T tiếp tục cùng với Đặng Công T dùng dao chém anh Nguyễn Công H gây thương tích 43%. Vụ việc đã được Cơ quan điều tra xử lý bằng vụ án khác theo quyết định khởi tố vụ án số: 86/QĐ ngày 02/10/2017.
Căn cứ kết luận giám định số: 232/TgT ngày 03/8/2017 của Trung tâm pháp y – sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì anh S bị 01 vết thương vùng khuỷu tay phải, gẫy đầu trên xương quay phải, đứt gân cơ duỗi cổ tay quay, gân cơ duỗi chung các ngón, gân cơ cánh tay quay. Tại thời điểm giám định còn hạn chế vận động khuỷu tay và cẳng tay. Thương tích phù hợp với tổn thương cơ bản là “ vết chém, băm bổ ”, được gây ra bởi vật cứng có cạnh sắc. Tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 18%.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Đặng Đức T phạm tội: “ Cố ý gây thương tích ”.
Áp dụng khoản 2 điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm b, điểm s, điểm x khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo: Đặng Đức T: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2017.
Ngoài ra bản án cấp sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 12/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc có quyết định số 01/QĐ-VKS.XM với nội dung: Kháng nghị phần áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm x khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 của bản án số 14/2018/HSST ngày 27/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng không áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để tăng hình phạt đối với Đặng Đức T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng nghị.
Trong phần phát biểu quan điểm đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy bản án sơ thẩm xét xử bị cáo đúng người, đúng tội. Nhưng cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không đúng. Bởi vì, theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS “Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc cha, mẹ, vợ chồng, con của liệt sĩ”, gia đình bị cáo T có ông ngoại là người có công với cách mạng thì không thể áp dụng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được. Theo Điều 54 BLHS quy định thì Tòa án có thể áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Nhưng sau khi gây thương tích cho ông Sử, bị cáo đã bỏ trốn, trong thời gian bỏ trốn bị cáo lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng cho người khác, với tổn hại sức khỏe 43% , điều đó chứng tỏ bị cáo không thể hiện sự ăn năn hối cải, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai báo còn quanh co, thiếu thành khẩn, nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng Điều 54 để cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là quá nhẹ, chưa nghiêm minh và không có tác dụng đấu tranh, phòng chống tội phạm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, sửa bản án sơ thẩm và tăng mức hình phạt đối với bị cáo với mức án từ 24-30 tháng tù.
Luật sư phát biểu quan điểm bảo vệ cho bị cáo như sau: Trước hết ông đồng ý vói quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt đối vối bị cáo T. Tuy nhiên, ông có một số quan điểm về tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát chưa đề cập như sau:
- Bị cáo phạm tội trong hoàn cảnh là bị hại không được mời đến nhà nhậu nhưng tư động đến, khi nhậu say lại gây sự đánh ông B là bác của bị cáo gây ức chế về mặt tinh thần nên bị cáo mới có hành vi phạm tội. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.
- Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí điều trị theo yêu cầu cua bị hại (điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015).
- Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại đã có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ căn cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, các hành vi, Quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cấp sơ thẩm đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn giải quyết sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.
Quyết dịnh kháng nghị của Viện kiểm sát huyện Xuyên Mộc trong thời hạn và đúng theo thủ tục quy định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Qua điều tra, xét hỏi tại phiên tòa, đối chiếu với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhân chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định như sau: Bị cáo Đặng Đức T đã sử dụng 01 dao phay là hung khí nguy hiểm chém 01 nhát vào khuỷu tay phải của ông S gây thương tích qua giám định là 18%. Sau khi gây thương tích cho ông S, T bỏ trốn lại tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Đức T tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc:
Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Gia đình bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng để áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS là không đúng. Bởi lẽ, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS quy định “Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc cha, mẹ, vợ chồng, con của liệt sĩ”, trong trường hợp của bị cáo thì ông ngoại là người có công với cách mạng là không thuộc trường hợp quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS. Sau khi gây thương tích cho ông Sử, bị cáo đã bỏ trốn, trong thời gian bỏ trốn bị cáo lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng cho người khác, với tổn hại sức khỏe 43%. Vụ việc đã được Cơ quan điều tra xử lý bằng vụ án khác theo quyết định khởi tố vụ án số: 86/QĐ ngày 02/10/2017 và sẽ được giải quyết bằng vụ án khác. Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cũng chưa chính xác.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây thương tích cho bị hại 18%, bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm để gây án và sau khi gây án bị cáo đã bỏ trốn nhưng cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo 18 (mười tám) tháng tù là nhẹ, không tương xứng với tính chất, múc độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt tù đối với bị cáo Đặng Đức T.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Điều 355, điểm a, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Chấp nhận yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, sửa Bản án sơ thẩm.
1/ Trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Đặng Đức T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2017.
2/ Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (08/5/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - PV27-Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - TAND huyện Xuyên Mộc; - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Công an huyện Xuyên Mộc; - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Quốc Việt |