- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc L - Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L. Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2018/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2018. V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Châu Tiếp.
Bà Đặng Thị Tiềm.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Lê Quế Thanh, thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 185/2018/TLST-HNGĐ ngày 04/6/2018 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXX-ST ngày 05/7/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1988; (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Nguyễn Văn N, sinh năm 1985;(có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc L trình bày: Giữa chị L và anh Nguyễn Văn N kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi. Gia đình hai bên có hàn gắn nhưng hai bên không đạt được. Chị L và anh N đã sống ly thân từ tháng 10/2016 cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống vợ chồng tự ai nấy lo, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì thế về tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu được ly hôn anh N;
Về con chung: Giữa chị L và anh N có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Vũ D, sinh ngày 27/10/2005 và Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 20/4/2012. Hiện tại, anh N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, khi ly hôn L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Văn N trình bày: Thống nhất cùng lời trình bày của chị L về thời gian kết hôn. Đối với mâu thuẫn giữa chị L và anh N chỉ là mâu thuẫn nhỏ, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thỏa thuận được. Chị L yêu cầu được ly hôn, anh N không đồng ý theo yêu cầu của chị L.
Về con chung: Thống nhất cùng lời trình bày của chị L về con chung. Hiện tại con chung đang sống cùng anh N. Anh N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị Nguyễn Thị Ngọc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Chị Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Chị L yêu cầu được nuôi con chung, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con;
Anh Nguyễn Văn N đồng ý ly hôn, anh N yêu cầu được nuôi con chung, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L về quan hệ hôn nhân. Về con chung: Tiếp tục giao con chung cho anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn anh Nguyễn Văn N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày, các chứng cứ do đương sự cung cấp thì giữa chị L và anh Nguyễn Văn N kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi. Gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không đạt được. Chị L và anh N đã sống ly thân từ tháng 10/2016 cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống vợ chồng tự ai nấy lo, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau;
Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Nguyễn Văn N;
Căn cứ bản án số 17/2017/HNGĐ-ST ngày 13/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị NgọcL, trong khoảng thời gian này thì hiện trạng hôn nhân giữa chị L và anh N không thể hàn gắn;
Vì thế Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị L và anh N không còn hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L về con chung và cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày, chứng cứ của đương sự thì giữa chị L và anh Nguyễn Văn N có 02 con chung Nguyễn Ngọc Vũ D, sinh ngày 27/10/2005 và Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 20/4/2012. Hiện tại, anh N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng;
Con chung Nguyễn Ngọc Vũ D có nguyện vọng sống cùng anh Nguyễn Văn N nên cần tôn trọng nguyện vọng của con chung;
Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;
Vì thế Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm hiện tại con chung Nguyễn Ngọc Vũ D, sinh ngày 27/10/2005 và Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 20/4/2012, anh N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định, không bị thay đổi môi trường sinh hoạt, đảm bảo phát triển tâm lý của con chung cho nên chấp nhận yêu cầu của anh N, tiếp tục giao con chung Nguyễn Ngọc Vũ D, sinh ngày 27/10/2005 và Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 20/4/2012 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L về quan hệ hôn nhân; Không chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung và phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
Xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L. Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Không chấp nhận yêu cầu được quyền được nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Ngọc L.
Tiếp tục giao con chung Nguyễn Ngọc Vũ D, sinh ngày 27/10/2005 và Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 20/4/2012 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001583 ngày 30/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm;
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: TAND tỉnh Tiền Giang; VKSND thị xã Cai Lậy; Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; Các đương sự; UBND xã (phường) Lưu: HS, AV | Trƣơng Vĩnh Hữu |