- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H-Nguyễn Văn H"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 67/2018/HNGĐ-ST Ngày: 27/09/2018 |
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn’’
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn Ông Ngô Trung Giàu - Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 240/2018/TLST-HNGĐ ngày 18/6/2018 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1986; nơi cư trú: 59B ấp H, xã S, huyện CT, tỉnh Bến Tre. (có mặt) 2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; nơi cư trú: 29 B khu phố 2, phường V,thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị H trình bày: Chị và anh H kết hôn năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V thành phố Bến Tre. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng càng về sau thì mâu thuẫn phát sinh, nguyên nhân là do
bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng chị thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc không lo cuộc sống cho gia đình mặc dù hai anh chị đã nhiều lần bàn bạc tìm biện pháp giải quyết nhưng không được. Hai anh chị đã ly thân từ tháng 5/2018 đến nay. Trước Tòa chị xin được ly hôn. Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 28/01/2003. Chị xin được nuôi cháu P và không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Về tài sản chung: không có. Về nợ chung: Chị H khai không có. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời anh H đến để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Hai vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm: Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Về nội dung: việc chị H xin ly hôn là có căn cứ cần được chấp nhận, đề nghị chấp nhận việc chị H xin được nuôi con cũng như việc chị không yêu cầu anh Hai phải cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị H khai không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả của việc tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy: [1] Ngày 08/6/2018 chị Nguyễn Thị Thu H có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H, hiện anh H đang sinh sống trên địa bàn thành phố BT nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo qui định tại các Điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải nhưng anh H không có mặt theo thông báo hòa giải nên không thể tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cũng đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa cho anh H để tham gia phiên tòa nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh H là phù hợp.
Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Văn H kết hôn vào năm 2002 và đăng ký kết hôn tại UBND phường V thị xã BT (nay là thành phố BT) tỉnh Bến Tre, hôn nhân do cả hai tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng càng về sau thì mâu thuẫn phát sinh, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng chị thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc không lo cuộc sống cho gia đình mặc dù hai anh chị đã nhiều lần bàn bạc tìm biện pháp giải quyết nhưng không được. Hai anh chị đã ly thân từ tháng 5/2018 đến nay. Trước Tòa chị H cương quyết xin được ly hôn. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. [4] Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 28/01/2003. Cháu P hiện đang sống với chị, Chị xin được nuôi cháu P và không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Cháu P cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ,... Do đó Hội đồng xét xử giao cháu Phúc cho chị H nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp qui định của pháp luật. [5] Về tài sản chung: không có nên không đặt vấn đề giải quyết. [6] Về nợ chung: chị H khai không có nên không xem xét giải quyết. [7] Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [8] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng chị H phải nộp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56; 57; 81; 82; 83; 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, cụ thể tuyên: - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. - Về con chung: chị H được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 28/01/2003. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết một trong các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung: không có - Về nợ chung: Không có. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017209 ngày 15/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố BT. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - VKSND TP Bến Tre; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS TP BT; - UBND phường V TP BT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Nguyễn Duy Phong |