vanban.org

Bản án 67/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/12/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Buộc anh Lê Văn R phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị T tổng số tiền vốn 10.

Đối với khoản tiền phải thanh toán. Kể từ ngày chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong, anh Lê Văn R phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Văn R phải chịu án phí dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Buộc anh Lê Văn R phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị T tổng số tiền vốn 10.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/DS-ST
Ngày 25-12-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Minh Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Quốc Thống.

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 315/2018/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn R (vắng mặt).

Cùng cư trú: Ấp 3, xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24-9-2018 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 26-6-2018 âm lịch, chị Nguyễn Thị T có cho anh Lê Văn R vay số tiền 10.000.000 đồng, không tính lãi suất, thời hạn vay 01 tháng. Chị T đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng anh R không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay chị T yêu cầu anh R trả số tiền 10.000.000 đồng và không yêu cầu thanh toán lãi.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Lê Văn R không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh R.

Về quan hệ pháp luật và thời hiệu khởi kiện: Giao dịch dân sự giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn R được xác định tại thời điểm thực hiện là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự. Các bên thực hiện giao dịch có lập thành văn bản thể hiện tại biên nhận nợ ngày 26-6-2018 âm lịch, đến khi chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là chưa quá 03 năm nên theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Xét nội dung vụ án: Theo biên nhận nợ ngày 26-6-2018 âm lịch thể hiện anh R có vay của chị T số tiền 10.000.000 đồng và anh R ký tên tại biên nhận; các bên không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả nợ. Quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập anh R tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản phản bác yêu cầu của nguyên đơn nên xem như cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào biên nhận nợ ngày 26-6-2018 âm lịch, buộc anh R có nghĩa vụ thanh toán vốn vay cho chị T số tiền 10.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị T không yêu cầu tính lãi suất do anh R vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án, anh R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% tương ứng với số tiền theo yêu cầu của chị T được Tòa án chấp nhận là 10.000.000 đồng. Cụ thể: 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T được Tòa án chấp nhận nên chị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, đã dự nộp được hoàn trả lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 429, 463, 466 và 469 Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Buộc anh Lê Văn R phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị T tổng số tiền vốn 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Đối với khoản tiền phải thanh toán. Kể từ ngày chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong, anh Lê Văn R phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Văn R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), chưa nộp.

Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 04 tháng 10 năm 2018, chị T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0012238 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được hoàn trả lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn R có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ