vanban.org

Bản án 67/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 08/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình G, phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội. Xử phạt: Bị cáo Lê Đình G, 18 ( Mười tám ) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (điều 194 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình G, phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 67/2017/HSST
Ngày : 08/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông; Nguyễn Trọng Sơn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà; Hoàng Thị Nga. Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Thanh Chương.

2. Bà; Nguyễn Thị Thảo Hường, Phó Chánh thanh tra huyện Thanh Chương.

- Thư ký phiên toà: Ông; Nguyễn Bá Anh

Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa : Bà; Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2017. Tại : Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sở thẩm vụ án hình sự thụ lý số : 64/2017/HSST, ngày 11 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2017/HSST-QĐ, ngày 24/8/2017, đối với bị cáo :

1. LÊ ĐÌNH G, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Xóm 7, xã HL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp : Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc : Kinh; con ông: Lê Đình N( chết ) và bà Lê Thị T; vợ con : Chưa có; tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, truy tố về hành vi phạm tội như sau : Lê Đình G là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 27/6/2017, trong khi G đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người tên N trú tại xã TĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An gọi điện đến và nói:“Có tiền không, sang anh để cho ít mà chơi ” (ý nói bán ma túy). Sau một hồi thống nhất, G nói với N: “Anh ở mô đó, em có 500.000đ đây”. N trả lời: “Anh đang ở đường đất nối xã TĐ và xã TN, chú sang đi ”. Ngay sau đó, G xin đi nhờ xe máy của một người đi đường đến địa điểm hẹn gặp N. Gặp nhau, N nhận số tiền 500.000đ từ G rồi nói với G: “ Có gói thuốc bên đường sang lấy mà hút ” (ý nói ma túy để trong gói thuốc lá) rồi N bỏ đi. Nghe thấy vậy, G đi lại khu vực N chỉ rồi cầm gói thuốc lá hiệu Thăng Long lên thì thấy bên trong gói thuốc lá có 01 gói ni lông nhỏ chứa ma túy. Khi G vừa rút điếu thuốc lá từ trong gói thuốc ra thì ngay lập tức bị Tổ công tác Công an huyện Thanh Chương, đang làm nhiệm vụ tại xã TĐ, huyện Thanh Chương phát hiện. Do sợ hãi, Lê Đình G vứt gói thuốc lá xuống đường rồi bỏ chạy được khoảng 20m thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Tổ công tác yêu cầu G nhặt gói thuốc lá lên và kiểm tra phát hiện bên trong có chứa heroin nên tổ tuần tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 762/KL-PC54 ngày 29/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận : “ Khối chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lê Đình G gửi tới giám định là chất ma túy ( Heroin ), có trọng lượng 0,29 gam ).

Tại bản Cáo trạng số 69 ngày 15/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Lê Đình G về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 (Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến; ông bà nội ngoại là người có công ) Điều 46 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội, về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi năm 2017, xử phạt Lê Đình G, từ 17 – 21 tháng tù. Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số hê rô in và bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Đình G, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo Lê Đình G phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với kết luận giám định.

Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận :

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 27/6/2017, tại đường liên xã thuộc xã TĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Lê Đình G, đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,29 gam Hê rô in, thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Như vậy đã có đủ cở sở để khẳng định bị cáo Lê Đình G đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hội; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội và được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến; ông bà ngoại là người có công đã được tặng Huy và Huân chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo phạm tội sau khi Bộ luật hình sự năm 2015 được công bố, hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Vì vậy cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội, về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi năm 2017, cho bị cáo được hưởng lợi. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên N bán ma túy cho G trú tại xã TĐ, huyện Thanh Chương. Qua xác minh không có người nào có tên, đặc điểm như trên, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.

* Về vật chứng : Quá trình điều tra có thu giữ số hê rô in được niêm phong trong 01 phong bì thư. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án, nên cần tịch thu tiêu hủy.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình G, phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình G, 18 ( Mười tám ) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2017.

* Về vật chứng : Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, xử :

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư, bên trong chứa số hê rô in là vật chứng.

( Chi tiết vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/8/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương ).

* Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử :

Buộc bị cáo Lê Đình G, phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn ), án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ( đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án ) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ