- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu Sính L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lầu Sính L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2017/HSST Ngày 08/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Vũ
2. Ông Thùng Văn Liên
Những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa:
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Sao - Thư ký Toà án nhân dân huyện N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.
Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vàng A Pháng, địa chỉ: bản Huổi Hâu, xã Nà Khoa, huyện N.
Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2017/HSST ngày 21/7/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2017/HSST-QĐ ngày 29/8/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lầu Sính L; sinh năm 1961 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản H 2, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Lầu Dúa P (đã chết) và bà Giàng Thị M (đã chết); Có vợ là Giàng Thị P, sinh năm 1970; Bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền sự, tiền án: Không. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2017. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 10 phút, ngày 01/6/2017, tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã H làm nhiệm vụ tại khu vực bản H 2, xã H, huyện N phát hiện Lầu Sính L đang nằm trên giường chuẩn bị sử dụng ma túy là thuốc phiện. Tổ công tác thu tại chỗ nằm của Lầu Sính L 03 gói nhỏ nilon màu trắng bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc (nghi là thuốc phiện). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng gồm: 03 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để sử dụng thuốc phiện đưa về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại cơ quan điều tra Lầu Sính L khai nhận: Số ma túy bị bắt quả tang trên là là thuốc phiện, L mua của người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ của người đó ở đâu ngày 28 tháng 5 năm 2017 với số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tại bản H 2, xã H, huyện N. Mục đích L mua thuốc phiện là để sử dụng vì L là người nghiện ma túy.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định ngày 02/6/2017 của Công an huyện N xác định số Thuốc phiện thu giữ của Lầu Sính L có trọng lượng là 20 gam (hai mươi) gam, đã lấy mẫu giám định là 06 (sáu) gam, còn lại 14 (mười bốn) gam.
Tại Bản kết luận giám định số: 484/GĐ-PC54, ngày 16/6/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: "Mẫu vật gửi giám định được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lầu Sính L là chất ma túy: Loại thuốc phiện".
Tại bản Cáo trạng số 48/QĐ-VKS-HS ngày 21/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lầu Sính L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS.
Tại phiên toà, bị cáo Lầu Sính L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lầu Sính L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Lầu Sính L từ đến 24 tháng đến 30 tháng tù; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41/BLHS, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76/BLTTHS tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để sử dụng thuốc phiện; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Không áp dụng án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Bị cáo Lầu Sính L tại phiên tòa nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lầu Sính L khai nhận hành vi phạm tội của mình mua ma túy về tàng trữ để sử dụng phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng.
Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lầu Sính L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194/BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã H, huyện N. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng cho cá nhân bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý không bị ai xúi giục. Hành vi của bị cáo đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý trong xã hội và làm gương răn đe giáo dục các đối tượng khác đang và đã có hành vi như bị cáo nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.
Xét nhân thân bị cáo: Lầu Sính L xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà nghiện ma túy bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng dần cho bản thân. Khi bị bắt giữ bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là trụ cột trong gia đình. Đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 BLHS. Xong cần xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội đời thường một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho chính bị cáo và gia đình bị cáo.
Trong hồ sơ vụ án Lầu Sính L còn khai nhận đã mua thuốc phiện của người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ của ông ta ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định.
Xét hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 194/BLHS về hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX xét thấy bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.
Xét vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án còn 14 gam thuốc phiện (đã trừ mẫu giám định) và 01 bộ bàn đèn tự tạo để sử dụng ma túy, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 41/BLHS; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76/BLTTHS tịch thu tiêu huỷ.
Xét phần án phí: Tại phiên tòa bị cáo cung cấp giấy chứng nhận hộ nghèo số: 310/BCĐ ngày 03/03/2017 Giấy chứng nhận hộ nghèo của gia đình và đề nghị được miễn án phí HSST. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, HĐXX xét chấp nhận đề nghị của bị cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lầu Sính L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Áp dụng điểm p khoản 1, 2 Điều 46 và khoản 1 Điều 194 của BLHS năm 1999 và khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, Nghị quyết số 41/QH14, xử phạt bị cáo Lầu Sính L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 01/6/2017.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 của BLHS; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76 của BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ 14 gam (mười bốn) gam thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo để sử dụng ma túy (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
4. Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Lầu Sính L được miễn án phí HSST do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 08/9/2017./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND huyện N;
- Đội ma túy Công an N;
- Cơ quan THAHS CA N;
- Chi cục THA dân sự N;
- PC 81(THAHS) CA tỉnh Điện Biên;
- Sở Tư pháp;
Vũ Thị Thành
- Lưu. Hồ sơ VA, THAHS.
Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên
Các hội thẩn nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thùng Văn Liên
Trần Văn Vũ
Vũ Thị Thành
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh; - Bị cáo; - VKSND huyện N; - Đội ma túy Công an N; - Cơ quan THAHS CA N; - Chi cục THA dân sự N; - PC 81(THAHS) CA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp; - Lưu. Hồ sơ VA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thành |