vanban.org

Bản án 67/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A V... - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2017/HSST
Ngày 15/ 9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Xuân Phùng.

2. Ông Thào A Tủa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Nhung.

Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Đình Hải: Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2017/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2017.

Đối với bị cáo Hạng A V (Tên gọi khác: Không). Sinh năm 1985.

Nơi sinh: Bản Nậm Dính, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: Bản Nậm Vì, xã Chung Chải - Mường Nhé - Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm nương. Trình độ văn hóa: 5/12.

Dân tộc: Mông. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Hạng A C (đã chết) và con bà Vàng Thị T( đã chết).

Bị cáo Hạng A V chưa có vợ, con.

Gia đì nh bị cá o có 06 chị em ruột, bị cáo là thứ 02 trong gia đì nh.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 25 tháng 5 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Hạng A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau.

Vào khoảng 12 giờ ngày 24 tháng 5 năm 2017, bị cáo Hạng A V đi bộ xuống bản Hua Sim, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé để tìm mua thuốc phiện về sử dụng thì gặp người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, tuổi địa chỉ. Bị cáo Hạng A V đã mua thuốc phiện với số tiền là 500.000 VND ông ta đưa cho bị cáo một gói nhỏ thuốc phiện, mua bán xong ông ta đi đâu không biết, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2017 bị cáo Hạng A V đang lấy thuốc phiện ra để sử dụng tại nhà thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Leng Su Sìn phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Ngày 26 tháng 5 năm 2017 Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Mườ ng Nhé, đã lậ p biên bả n mở niêm phong , xác đị nh trọ ng lượ ng vậ t chứ ng , thu đượ c của bị cáo Hạng A V là: 38, 21gam đồ ng thờ i l ấy đi 4,33 gam là m mẫ u vậ t gử i giám định chất ma túy. Số cò n lạ i là : 33,88 gam.

Bản kết luận giám đị nh số : 475/GĐ – PC 54 ngày 14 tháng 6 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Bi ên kế t luậ n : Mẫ u vật trích ra từ vật chứng gử i đến giám đị nh thu đượ c của Hạng A V là thuốc phiện. Số mẫ u vậ t 4,33 gam gử i giá m đị nh không hoà n lạ i theo quy đị nh c ủa pháp luật. Tổng trọng lượng vật chứng thu được là 38,21 gam là thuốc phiện.

Bản cáo trạng số : 53/QĐ – VKS - HS ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Viện kiể m sát nhân dân huyệ n Mườ ng Nhé truy tố bị c áo Hạng A V về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự .

Đạ i diệ n Viện kiể m sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lờ i luậ n tộ i giữ nguyên quan điể m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điể m p khoản 1 Điều 46 Bộ luậ t Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hạng A V: 12 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự , hình phạt bổ sung là phạt tiề n đối với bị cáo Hạng A V.

Áp dụng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu vật chứng tiêu hủ y theo quy đị nh pháp luật.

Bị cáo Hạng A V không tranh luậ n gì , về nộ i dung bản luận tội, cũng như cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Qua cuộ c thẩ m vấ n công khai tại phiên tòa và lời khai nhậ n của bị cáo Hạng A V, tại cơ quan điều tra , hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vào hồi 09 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2017 bị cáo Hạng A V đang sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Leng Su Sìn phát hiện và bắt quả tang hành vi tàng trữ 38,21 gam với mụ c đí ch để sử dụng.

Bị cáo Hạng A V có đủ năng lực chịu trá ch nhiệ m hình sự, biế t rõ “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là trái quy đị nh củ a phá p luậ t sẽ bị trừ ng trị, nghiêm minh.

Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Hạng A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y” quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 194 Bộ luậ t Hì nh sự , là hoàn toàn đúng ngườ i, đú ng tộ i và đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo Hạng A V là nghiêm trọ ng, nguy hiể m cho xã hộ i, xâm hạ i đến chính sách độc quyền , quản lý của Nhà nước về các chất ma túy . Đồng thờ i ảnh hưởng đến trậ t tự , an toàn xã hội tại vùng sâu, vùng xa biên giớ i. Bị cáo Hạng A V lẽ ra phải làm gương cho mọi người, noi theo học tập.

Xét về nhân thân bị cáo Hạng A V sinh ra và lớn lên ở bản Nậm Dính, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ học hết 5/12 ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1997 cùng gia đình chuyển về bản Nậm Vì, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé làm ăn sinh sống. Bị cáo Hạng A V có nhận thức rất rõ, về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.

Trong qúa trình điều tra, truy tố , xét xử bị cáo Hạng A V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiế t giả m nhẹ t rách nhiệm hình sự theo quy định tại điể m p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự . Bị cáo Hạng A V là người dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Xét thấy cần ph ải cá ch ly bị cáo Hạng A V ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i , mộ t thờ i gian nhấ t đị nh, để cải tạo , trở thà nh ngườ i có í ch đồ ng thờ i cũ ng răn đe , phòng ngừ a chung trong quầ n chú ng nhân dân và nhữ ng ai đang có ý đị nh thự c hiệ n hà nh vi phạm tộ i như bị cá o Hạng A V bị pháp luật trừng trị, nghiêm minh.

Tại phiên tò a; bị cáo Hạng A V đề nghị Hội đồng xét xử , xem xé t giả m nhẹ hình phạt cho bị cá o, lý do gia đình gặp nhiều khó khăn. Hộ i đồ ng xé t xử , sẽ xem xét, khi lượ ng hì nh phạ t đố i vớ i bị cá o.

Căn cứ khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự , bị cáo Hạng A V còn bị hình phạt bổ sung là phạ t tiề n ; Hộ i đồ ng xé t xử , xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo Hạng A V còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng.

Xét thấy đối với người đàn ông dân tộc Mông bán thuốc phiện cho bị cáo. Cơ quan điều tra không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm rõ. Nên Viện kiểm sát không truy tố; Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.

Về vật chứng vụ án: Áp dụ ng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủ y 33,88 gam thuốc phiện. 01(một) bộ bàn đèn tự tạo.

Về án phí : Căn cứ Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự ; Điề u 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí , lệ phí Tòa á n. Bị cáo Hạng A V thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên không phải chịu á n phí theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Vì các lẽ trên:

QUYẾ T ĐỊ NH:

1.Tuyên bố bị cá o: Hạng A V phạm tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hạng A V: 18 ( Mười tám) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh t ừ ngày bắ t tạ m giữ ngà y 25 tháng 5 năm 2017.

2 .Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng : Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; điểm a khoản 2 Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự :

- Tịch thu tiêu hủ y: 33,88 gam thuốc phiện đã niêm phong là vật chứng vụ án Hạng A V.

- 01 ( một) bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện. Theo biên bả n bàn giao giữ a Công an huyệ n Mườ ng Nhé và Chi cụ c thi hà nh á n dân sự huyện Mườ ng Nhé ngày 23 tháng 8 năm 2017.

3. Về á n phí : Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điề u 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí, lệ phí Tò a á n. Miễn á n phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng A V.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo . Bị cáo Hạng A V đượ c quyề n khá ng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngà y tuyên á n.

Cỡ chữ