vanban.org

Bản án 67/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 31/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2017. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2017/HSST
Ngày 31 tháng 8 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Xuân Thuật – Chủ tịch MTTQ xã Đông Quang .

- Ông Nguyễn Minh Tuấn – Chủ tịch Hội nông dân xã Châu Sơn .

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 8 năm 2017. Tại Trụ sở UBND xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2017/HSST ngày 11/8/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1960; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu 7, xã MC, huyện BV, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 4/10; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Trạch P (Đã chết) và bà: Phương Thị C, sinh năm: 1928; Chồng: Nguyễn Danh H (Đã chết); Con: Có 03 con, con lớn sinh năm: 1991, con nhỏ sinh năm: 1995; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2017 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – công an thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Tài C, sinh năm: 1991

Trú tại: Khu 7, xã MC, huyện BV, thành phố Hà Nội.

(Vắng m t tại phiên tòa)

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 05/05/2017, tại khu vực đường bãi liên thôn thuộc khu 7, xã Minh Châu, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra về kinh tế ma tuý – Công an huyện Ba Vì phối hợp với công an xã Minh Châu bắt quả tang Nguyễn Thị T và Nguyễn Tài C đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Khi thấy lực lượng công an, T đã thả từ trên tay phải xuống đất 1 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng, lực lượng công an đã thu giữ. Ngoài ra, lực lượng công an còn thu giữ: 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu đỏ đen, model 1280, kèm theo sim số 01627727559; 01 (một) điện thoại di động NOKIA, model 106, màu đen, kèm theo sim số 01626421456; số tiền 470.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) và 01 (một) xe đạp màu đen (loại xe cắng) đã cũ, rỉ.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị T khai nhận: Do có được 1 gói ma tuý (T khai nhặt được tại đường liên thôn Khu 7 – xã Minh Châu và đem về nhà giấu trên tường bao trước sân) và biết C là đối tượng nghiện ma tuý nên T nói với C về việc có ma tuý. Khoảng hơn 14 giờ ngày 05/05/2017, T đang ở nhà thì nhận được điện thoại của C hỏi mua 02 (hai) gói ma tuý Heroine nhưng T trả lời chỉ có 01 (một) gói và tắt máy. Sau đó, T lấy gói ma tuý để vào găng tay đang đeo, lấy xe đạp ra đồng làm việc. Đến khoảng 15 giờ, C tiếp tục gọi điện thoại cho T để hỏi mua ma tuý với số tiền 500.000đ. T trả lời chỉ có 01 (một) gói ma tuý và đồng ý bán cho C (T và C tự hiểu 01 gói ma tuý có giá 200.000đ), C hẹn khi về sẽ liên lạc. Khoảng 16 giờ T nhận được điện thoại của C hẹn g p tại bãi rác khu 7, xã Minh Châu, T đồng ý và đi xe đạp ra chỗ hẹn g p C. Khi g p nhau, C lấy tiền ra đếm để đưa cho T trong khi T lấy gói ma tuý cầm trên tay phải để đưa cho C thì bị lực lượng công an bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 3202/KLGĐ-PC54 ngày 26/05/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói (thu giữ của Nguyễn Thị T) là ma tuý loại Heroine, trọng lượng: 0,045 gam./.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 68/CT - KSĐT ngày 10 tháng 8 năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 BLHS. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đề nghị. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 24 đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ xung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 gói heroin qua giám định; Tịch thu sung công 02 điện thoại, 01 xe đạp và 200.000,đ; Trả lại cho Nguyễn Tài C 270.000,đ .

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận: Do nh t được 01 gói ma tuý tại đường liên thôn Khu 7, xã Minh Châu và đem về nhà giấu trên tường bao trước sân. T biết C là đối tượng nghiện ma tuý nên T nói với C về việc mình có ma tuý bán. Khoảng hơn 14 giờ ngày 05/05/2017, T đang ở nhà thì nhận được điện thoại của C hỏi mua 02 (hai) gói ma tuý Heroine nhưng T trả lời chỉ có 01 (một) gói và tắt máy. Sau đó, T lấy gói ma tuý để vào găng tay đang đeo, lấy xe đạp ra đồng làm việc. Đến khoảng 15 giờ, C tiếp tục gọi điện thoại cho T để hỏi mua ma tuý với số tiền 500.000đ. T trả lời chỉ có 01 (một) gói ma tuý và đồng ý bán cho C (T và C tự hiểu 01 gói ma tuý có giá 200.000đ), C hẹn khi về sẽ liên lạc. Khoảng 16 giờ T nhận được điện thoại của C hẹn g p tại bãi rác khu 7, xã Minh Châu, T đồng ý và đi xe đạp ra chỗ hẹn g p C. Khi g p nhau, C lấy tiền ra đếm để đưa cho T trong khi T lấy gói ma tuý cầm trên tay phải để đưa cho C thì bị lực lượng công an bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 3202/KLGĐ-PC54 ngày 26/05/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói (thu giữ của Nguyễn Thị T) là ma tuý loại Heroine, trọng lượng: 0,045 gam./.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong tang vật, bản kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Nguyễn Thị T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự xã hội và còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Là mầm mống phát sinh các bệnh xã hội. Vì vậy cần thiết phải áp dụng Điều 33 BLHS, có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung.

Tuy nhiên khi lượng hình HĐXX xem xét tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức án đúng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Chồng bị cáo T nghiện hút ma túy đã chết, bị cáo bị mắc bệnh n ng, từ năm 2010 đến nay điều trị bệnh ARV và HIV tại bệnh viện đa khoa thị xã Sơn Tây, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 46 – BLHS. Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tại khoản 5 Điều 194 BLHS còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chồng chết sớm, khó có điều kiện để thi hành phạt bổ sung nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo. Xét thấy cần thiết áp dụng Điều 228 BLTTHS tiếp tục t¹m giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Đối với Nguyễn Tài C, quá trình điều tra xác định C là đối tượng nghiện ma tuý. Chuyển đi mua ma tuý với mục đích để về sử dụng nhưng chưa mua được ma tuý thì bị bắt quả tang. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ba Vì không xử lý trong vụ án này là có căn cứ. HĐXX không xét.

Về tang vật, vật chứng của vụ án: Cần áp dụng Điều 41, 42 BLHS, khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mang tên Nguyễn Thị T do phòng kỹ thuật hình sự - công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau giám định;

- Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đỏ đen, bên trong sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen Model 106; Imei: 355762063221846 bên trong có 01 sim điện thoại; 01 (một) xe đạp (loại xe cắng) đã cũ màu đen. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Ba Vì và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 29/8/2017.

- Số tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Tài C. Theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 28/8/2017 của Công an huyện Ba Vì đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án huyện Ba Vì. Trong đó có 200.000đ C dùng vào việc mua bán ma túy tịch thu sung quỹ Nhà nước. Còn lại 270.000đ tuyên trả lại cho anh Nguyễn Tài C.

Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 BLHS. Điều 228 – BLTTHS .

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2017. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

3./ Về tang vật, vật chứng của vụ án: Cần áp dụng Điều 41, 42 BLHS, khoản 2 Điều 76 BLTTHS .

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mang tên Nguyễn Thị T do phòng kỹ thuật hình sự - công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau giám định;

Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đỏ đen, bên trong sim điện thoại ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen Model 106; Imei: 355762063221846 bên trong có 01 sim điện thoại; 01 (một) xe đạp (loại xe cắng) đã cũ màu đen . (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Ba Vì và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 29/8/2017.

- Số tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Tài C. Theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 28/8/2017 của Công an huyện Ba Vì đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án huyện Ba Vì. Tuyên bố tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng); Trả lại cho anh Nguyễn Tài C 270.000,đ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) .

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm áp phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH 14 buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án, ho c bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Cỡ chữ