- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị H và anh V"
- Tòa quyết gì? * - Áp dụng: - Các điều 51, 56 ,57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147, điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí …
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂUHÂU TỈNH HƯNG YÊN ---***--- Bản án số: 58/2017/HNGĐ-ST Ngày 18/09/2017 “ V/v: ly hôn giữa chị H và anh V” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂUTỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-------------------------------------
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thế Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1/ -ông Trần Xuân Hoà - Nguyên Chủ tịch MTTQ xã An Vỹ.
2/ - ông Nguyễn Đức Tuân - Cán bộ hưu trí xã Phùng Hưng.
thư ký phiên toà: - bà Vũ Nhật Lệ - Cán bộ Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày /09/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2017/HNGĐ - ST Ngày 06/03/2017 về việc "Xin ly hôn" giữa:
*- Nguyên đơn: chị Bùi Thị H - Sinh năm 1986. + Sinh, trú quán và HKTT tại: Thôn NX xã C huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên.(Có mặt tại phiên toà)
*- Bị đơn: anh Lê Văn V
- Sinh năm 1979.
+ Sinh và trú quán tại: Thôn TH xã C huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. + HKTT tại: Phố G thị trấn PT huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt tại phiên toà).
*- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/- Cháu Lê Minh C
- Sinh ngày 24/08/2008.
2/- Cháu Lê Hương G
- Sinh ngày 17/05/2010.
+ Đều HKTT tại: Thôn NX xã C huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. (Đều vắng mặt tại phiên toà). + Người giám hộ cho Cháu C và Cháu G là chị Bùi Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết xột xử vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị H chung sống với anh Lê Văn V có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn PT năm 2007. Hai anh chị chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc bình thường được một thời gian thì nẩy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống và do việc làm kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Từ tháng 6/2016 đến nay hai anh chị sống ly thân nhau mỗi người ở một nơi, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xin được ly hôn với anh V vì không có hạnh phúc.
Về con chung: Chị và anh Lê Văn V có hai con chung là Lê Minh C (sinh ngày 24/08/2008) và cháu Lê Hương G (sinh ngày 17/05/2010). Hiện cháu C đang ở với anh V, còn Cháu G đang ở với chị H. Quan điểm của chị H là trong trường hợp vợ chồng ly hôn thì chị xin được tiếp tục nuôi cháu G, còn giao Cháu C cho anh V nuôi. Việc đóng góp phí tổn nuôi con thì không đặt ra.
Về chia tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết phân chia.
Tại lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn V trình bày:
Về hôn nhân: Điều kiện hoàn cảnh kết hôn cũng như chị H đó trình bày trên đây. Anh cũng nhất trí ly hôn vì vợ chồng đó không còn tình cảm.
Về con chung: Có hai con chung là Lê Minh C và cháu Lê Hương G. Các cháu muốn ở với ai thì anh cũng nhất trí.
Về chia tài sản: Anh đề nghị để vợ chồng tự giải quyết với nhau, nếu không được thì sẽ nhờ Tòa án giải quyết sau.
Nguyện vọng của Cháu Lê Minh C là xin được tiếp tục ở với anh Lê Văn V, còn nguyện vọng của Cháu Lê Hương G là xin được tiếp tục ở với chị Bùi Thị H
Tại phiên toà hôm nay:
Nguyên đơn chị Bùi Thị H vẫn giữ nguyên ý kiến và quan điểm trên đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà đã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng trong vụ án. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật vì nhiều lần không đến Tòa án theo giấy triệu tập. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án. Đề nghị xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lê Văn V; Con chung: Cháu Lê Minh C cho anh Lê Văn V tiếp tục nuôi, giao Cháu Lê Hương G cho chị Bùi Thị H tiếp tục nuôi. Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, chị H và anh V đều được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật; Tài sản chung, công nợ chung và đất ruộng nông nghiệp 03 của anh Lê Văn V và chị Bùi Thị H thì không đặt ra giải quyết trong vụ án ly hôn này; Nguyên đơn chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Việc anh Lê Văn V và chị Bùi Thị H kết hôn có đăng ký là hoàn toàn hợp pháp đã xác lập quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh chị đã nẩy sinh mâu thuẫn, sống ly thân không quan tâm chăm sóc nhau, cuộc sống hạnh phúc gia đình đang ở tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay cả hai anh chị đều có nguyện vọng ly hôn nhau. Nên cần xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lê Văn V để hai anh chị sớm ổn định tạo lập hạnh phúc gia đình mới.
Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Lê Văn V có hai con chung là Cháu Lê Minh C và Cháu Lê Hương G. Hiện Cháu C đang ở với anh V và cháu G đang ở với chị H, cuộc sống ổn định và đảm bảo nuôi dưỡng giáo dục. Nguyện vọng của Cháu C xin được ở với anh V, nguyện vọng của Cháu G là xin ở với chị H. Cũng là thể theo quan điểm nuôi con chung của cả anh V và chị H, nên cần giao Cháu C cho anh V tiếp tục nuôi và giao Cháu G cho chị H tiếp tục nuôi. Do anh V và chị H đều không yêu cầu nên việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, cả chị H và anh V đều được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về chia tài sản: Do cả chị Bùi Thị H và anh Lê Văn V đều không yêu cầu phân chia nên Tòa án không đặt ra xem xét trong vụ án ly hôn này. Khi nào anh chị có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Cần đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đó nộp tại cơ quan Chi cục thi hành án.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* - Áp dụng: - Các điều 51, 56 ,57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147, điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.
*- Xử :
1. Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lê Văn V.
2. Về con chung: Giao Cháu Lê Minh C (Sinh ngày 24/08/2008) cho anh Lê Văn V tiếp tục nuôi. Giao cháu Lê Hương G (Sinh ngày 17/05/2010) cho chị H tiếp tục nuôi. Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, cả chị H và anh V đều được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về chia tài sản: Không đặt ra xem xét. Khi nào anh Lê Văn V, chị Bùi Thị H có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm ( Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng dự phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0001800 ngày 06/03/2017 tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khoái Châunên việc nộp án phí đó xong).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H (Có mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/9/2017. Anh Lê Văn V, cháu Lê Minh C và cháu Lê Hương G (vắng mặt tại phiên toà) đều được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại địa phương nơi cư trú./
T/M: Hội đồng xét xử
Chủ toạ phiên toà
- Nơi nhận: + TAND tỉnh Hưng Yên + VKSND huyện Khoái Châuhâu. + THADS huyện Khoái Châuhâu. + Các đương sự. + Lưu Hồ sơ, VP.