vanban.org

Bản án 66/2026/QĐST-XLVPHC

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lương Thị Bé T1, sinh ngày 20/6/1990; căn cước công dân số: 049190004975; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường L, tỉnh Lâm Đồng.

[2]. Thời gian chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày 31/7/2026. [3]. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện T"
  • Tòa quyết gì? [1]. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lương Thị Bé T1, sinh ngày 20/6/1990; căn cước công dân số: 049190004975; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường L, tỉnh Lâm Đồng.
  • Căn cứ chính? Điều 54 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 66/2026/QĐST-XLVPHCLâm Đồng, ngày 15 tháng 8 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - LÂM ĐỒNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:

Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: ông Nguyễn Văn T.

Thư ký phiên họp: ông Phan Thái Hậu.

Kiểm sát viên VKSND khu vực 15 - Lâm Đồng tham gia phiên họp: bà Trần Thị X.

Người đề nghị: Ông Phan Hồ B, chức vụ: Trưởng Công an phường L, tỉnh Lâm Đồng; người được ủy quyền: ông Bùi Văn Đ, là cán bộ Công an phường L, có mặt tham gia phiên họp.

Ngày 15 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1 – Công an tỉnh L; tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 37/2026/QĐ–TA, ngày 10 tháng 8 năm 2026, đối với Lương Thị Bé T1, sinh ngày 20/6/1990; giới tính: Nữ; căn cước công dân số: 049190004975; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 04/12, (có mặt).

NHẬN THẤY:

[1]. Ngày 05 tháng 8 năm 2026, Trưởng Công an phường L, tỉnh Lâm Đồng có văn bản số 612/ĐN-CAP đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Bé T1, lý do và căn cứ đề nghị như sau:

Ngày 27/7/2026 Lương Thị Bé T1 đến khu vực nghĩa trang T2, phường L, tỉnh Lâm Đồng gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 100.000 đồng ma tuý rồi sử dụng một mình. Ngày 29/7/2026 Công an phường L, tỉnh Lâm Đồng tiếp nhận đơn tự nguyện xác định tình trạng nghiện ma tuý của bà T1, đưa T1 đến Trung tâm Y tế K xét nghiệm chất ma túy và xác định tình trạng nghiện ma túy. Theo Phiếu kết quả xét nghiệm số 601/TTYT-XN ngày 29/7/2026 xác định T1 dương tính với Methamphetamine, MDMA; quá trình làm việc T1 thừa nhận bản thân là người nghiện ma tuý, thường xuyên sử dụng ma tuý, lần gần nhất vào ngày 27/7/2026. Sau khi được thông báo tình trạng nghiện ma túy, Lương Thị Bé T1 không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng mà có xin được đi cai nghiện bắt buộc. Công an phường L đã lập biên bản vi phạm về về việc không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện; thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1.

[2]. Diễn biến tại phiên họp:

[2.1]. Ông Bùi Văn Đ, là người được người đề nghị ủy quyền tham gia phiên họp đã trình bày ý kiến: văn bản đề nghị số 612/ĐN-CAP ngày 05/8/2026 của Trưởng Công an phường L về việc đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 15 - Lâm Đồng xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Bé T1 là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Bé T1 trong thời hạn 24 tháng.

[2.2]. Kiểm sát viên - bà Trần Thị X tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đã tuân thủ theo đúng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022; Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an phường L, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Bé T1 trong thời hạn 24 tháng.

Người bị đề nghị Lương Thị Bé T1 trình bày: thống nhất với nội dung đề nghị, không có ý kiến.

XÉT THẤY:

Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị:

. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy đúng thẩm quyền, hồ sơ đề nghị đầy biên bản, tài liệu; Thông báo về việc lập hồ sơ, trình tự, thủ tục chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025.

. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc là 03 tháng kể từ ngày người nghiện ma túy thực hiện lần cuối hành vi vi phạm, đúng quy định tại khoản 4 Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025.

. Tòa án nhân dân khu vực 15 - Lâm Đồng (nơi có trụ sở cơ quan của Trưởng Công an phường đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính) có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Về nội dung đề nghị:

. Lương Thị Bé T1 là người đủ 18 tuổi trở lên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu kết quả xét nghiệm số 601/TTYT-XN ngày 29/7/2026 của Trung tâm Y tế K xác định T1 dương tính với Methamphetamine, MDMA; quá trình làm việc cũng như tại phiên họp, T1 thừa nhận bản thân là người nghiện, có phụ thuộc vào ma tuý, thường xuyên sử dụng ma tuý, lần gần nhất vào ngày 27/7/2026. Sau khi được thông báo tình trạng nghiện ma túy, Lương Thị Bé T1 không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng mà có xin được đi cai nghiện bắt buộc. Công an phường L đã lập biên bản vi phạm về về việc không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện; thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1. Hiện, Lương Thị Bé T1 không thuộc các trường hợp là người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện theo quy định pháp luật, phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Do đó, Lương Thị Bé T1 thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025.

. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Thị Bé T1 không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình mà còn là nguyên nhân có thể dẫn đến phát sinh nhiều tội phạm, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Trưởng Công an phường L đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 là có căn cứ. Cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm giúp cho đối tượng có thời gian tập trung cai nghiện, cải thiện sức khỏe để hòa nhập với cuộc sống bình thường.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Lương Thị Bé T1 thành khẩn khai báo và xin được cai nghiện ma tuý bắt buộc.

. Căn cứ Điều 29, 35; khoản 1, 3 Điều 54 Luật phòng chống ma túy năm 2025; khoản 3, 7, 18, 24 Điều 1 Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lương Thị Bé T1, sinh ngày 20/6/1990; căn cước công dân số: 049190004975; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường L, tỉnh Lâm Đồng.

[2]. Thời gian chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày 31/7/2026.

[3]. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án:

- Người bị đề nghị được quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định (ngày 15/8/2026).

- Người đề nghị được quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 15/8/2026).

[4]. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

[5]. Thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Khi quyết định có hiệu lực, cơ quan Công an lập đề nghị, Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1 - Công an tỉnh L có trách nhiệm làm thủ tục để buộc Nguyễn Thị L chấp hành quyết định.

Cỡ chữ