vanban.org

Bản án 66/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Tuyết T được ly hôn với anh Lý Thành P.

2/. Về con chung: Giao cháu Lý Nhật N, sinh ngày 02/8/2009 và cháu Lý Nhã V, sinh ngày 12/12/2010 cho chị Mai Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, (hiện tại hai cháu đang sống chung với chị T nên được giữ nguyên). Anh Lý Thành P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Tuyết T"
  • Tòa quyết gì? / Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Tuyết T được ly hôn với anh Lý Thành P.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 17/7/2026
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung và bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Tiểu My - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 133/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2026/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Tuyết T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số D, đường L, khóm G, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Nay là phường V, tỉnh Cà Mau)

- Bị đơn: Anh Lý Thành P, sinh năm 1987, địa chỉ: ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm Đ, phường H, tỉnh Cà Mau)

(Chị T và anh P vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Mai Tuyết T trình bày: Chị T và anh P tiến tới hôn nhân vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường V, tỉnh Cà Mau). Trong quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẩn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong gia đình, mâu thuẫn tiền bạc, cách sống và sinh hoạt, từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên từ năm 2016 chị T và anh P đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không thể sống chung được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lý Thành P.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Mai Tuyết T và anh Lý Thành P có 02 con chung là em Lý Nhật N, sinh ngày 02/8/2009 và cháu Lý Nhã V, sinh ngày 12/12/2010, hiện tại hai cháu đang sống cùng chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lý Thành P nhưng anh P đều vắng mặt và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Tuyết T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung: Chị T và anh P chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng đến nay đã xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được, cũng đã sống ly thân một thời gian nhưng không hàn gắn được mâu thuẫn, nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Hiện nay cháu Lý Nhật N, sinh ngày 02/8/2009 và cháu Lý Nhã V, sinh ngày 12/12/2010 đang sống với chị T, cũng nhằm tránh xáo trộn tâm lý và theo nguyện vọng của cháu, nên chấp nhận giao cháu Lý Nhật N và cháu Lý Nhã V cho chị Mai Tuyết T tiếp tục nuôi dưỡng. Do các đương sự không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra để giải quyết.

- Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Mai Tuyết T phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Mai Tuyết T yêu cầu ly hôn với anh Lý Thành P có nơi cư trú tại số Ấ, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm Đ, phường H, tỉnh Cà Mau) nên Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Mai Tuyết T có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 12/5/2025 nộp tại Tòa án, xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của chị T là hoàn toàn tự nguyện và không trái với pháp luật, nên được chấp nhận. Quá trình Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau thụ lý vụ án đã triệu tập, thông báo cho anh Lý Thành P tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và triệu tập xét xử nhưng anh Lý Thành P đều vắng mặt, kể cả ngày hôm nay (ngày 17/7/2026) cho thấy anh Lý Thành P cố tình trốn tránh. Căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự; áp dụng Điều 227; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn chị Mai Tuyết T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Thành P.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Tuyết T và anh Lý Thành P tự nguyện tiến tới hôn nhân từ năm 2009, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường V, tỉnh Cà Mau) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 180, quyển số 01/2009, ngày 22/04/2009 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Tuyết T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo chị Mai Tuyết T xác định quá trình chung sống vợ chồng thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do anh P không chăm lo cho gia đình, chị và anh P luôn cự cải dẫn đến hôn nhân không được hạnh phúc nên từ năm 2016 giữa chị T và anh P đã sống ly thân với nhau, nhưng anh P vẫn không quan tâm, không hàn gắn. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh P đến Tòa án, nhưng anh P đều không có ý kiến cũng như không đến Tòa án, cho thấy anh P không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị T. Ngoài ra, tại biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị T và anh Phát sinh S xác nhận vợ chồng chị T và anh P có xảy ra mâu thuẫn hôn nhân hay không thì chính quyền không nắm được do không ai trình báo với địa phương nhưng giữa chị T và anh P có sống ly thân từ năm 2016 đến nay là có xảy ra thực tế. Xét thấy từ khi sống ly thân cho đến nay nhưng cả hai đều không có biện pháp hàn gắn và hiện tại cả hai không sống chung với nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng, chỉ vì bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng mà cả hai không có biện pháp hàn gắn, làm cho đời sống vợ chồng ngày càng xa cách hơn, đời sống chung không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Tuyết T đối với anh Lý Thành P như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ.

Về con chung: Theo lời trình bày của chị Mai Tuyết T phù hợp với giấy khai sinh và biên bản xác minh của chính quyền địa phương cho thấy giữa chị T và anh P chung sống với nhau có 02 người con chung là cháu Lý Nhật N, sinh ngày 02/8/2009 và cháu Lý Nhã V, sinh ngày 12/12/2010; Hội đồng xét xử xét thấy cháu N và cháu V hiện đang sống cùng với chị T, để không làm xáo trộn đời sống của các cháu và theo nguyện vọng của các cháu tại biên bản lấy lời khai ngày 07/5/2026 là muốn được sống cùng chị T, vì vậy cần giao cháu Lý Nhật N và cháu Lý Nhã V cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định pháp luật. Anh Lý Thành P có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Tuyết T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị T, không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, chị T vẫn có quyền yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Mai Tuyết T xác định chị và anh P không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Chị Mai Tuyết T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 227, 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1./ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Tuyết T được ly hôn với anh Lý Thành P.

2/. Về con chung: Giao cháu Lý Nhật N, sinh ngày 02/8/2009 và cháu Lý Nhã V, sinh ngày 12/12/2010 cho chị Mai Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, (hiện tại hai cháu đang sống chung với chị T nên được giữ nguyên). Anh Lý Thành P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Anh Lý Thành P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3/. Về tài sản chung: Chị Mai Tuyết T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/. Về nợ chung: Chị Mai Tuyết T xác định vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và không ai nợ tài sản gì của vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

5/. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình chị Mai Tuyết T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Mai Tuyết T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003673 ngày 03/4/2026, tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Án sơ thẩm xử công khai, chị Mai Tuyết T, anh Lý Thành P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ