- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kpa H'L - Rơ ô H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Kpă H được ly hôn với ông Rơ Ô H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:66/2026/HNGĐ-ST Ngày 21/8/2026 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ksor H’Quá
2. Ông Nguyễn Hữu Công Trường
-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12
- Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay San – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 224/2026/TLST – HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 66/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kpă H, sinh năm 1985
Địa chỉ: Buôn B, xã I, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Rơ Ô H1, sinh năm 1983
Địa chỉ: Buôn C, xã I, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 27/5/2026, biên bản lấy lời khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Kpă H trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
-Về hôn nhân: Bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và về chung sống vợ chồng từ năm 2008. Có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã I, tỉnh Gia Lai vào ngày 02/5/2013. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không có sự thấu hiểu. Sau đó vợ chồng đã bỏ nhau theo phong tục người Jrai, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Do đó bà Kpă H đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn theo quy định của pháp luật.
-Về con chung: Bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 có 02 con chung là Kpă H2, sinh ngày 15/7/2009 và Kpă T, sinh ngày 07/6/2011.
Nguyện vọng của bà Kpă H là được trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục 02 con chung.
-Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu
-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn ông Rơ Ô H1 trình bày ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Rơ Ô H1 công nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, đã bỏ nhau theo phong tục người Jrai được 4 – 5 năm nay. Trước đây nhiều lần ông H1 đề nghị ly hôn với bà Kpă H nhưng bà H không chịu làm thủ tục vì muốn gây khó khăn. Nay bà Kpă H muốn giải quyết ly hôn thì ông cũng gây khó khăn là không đồng ý.
Về con: Ông bà có 02 con chung là Kpă H2, sinh ngày 15/7/2009 và Kpă T, sinh ngày 07/6/2011. Từ khi vợ chồng bỏ nhau theo phong tục thì con chung do bà Kpă H nuôi dưỡng. Nay xác định người nuôi con thì tùy vào nguyện vọng của con, ông Rơ Ô H1 không có ý kiến.
Về cấp dưỡng, về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:
Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên toà Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên toà cho đến trước khi nghị án; đương sự cũng có thái độ chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật tố tụng.
Nội dung vụ án thì Kiểm sát viên có quan điểm: Áp dụng Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của BLTTDS; các Điều 9, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Kpă H được ly hôn với ông Rơ Ô H1 trước pháp luật.
- Về con: Bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 có 02 con chung là Kpă H2, sinh ngày 15/7/2009 và Kpă T, sinh ngày 07/6/2011.
Nguyện vọng của bà Kpă H là được trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục cả 02 con chung. Đây là sự tự nguyện của đương sự phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu
-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu.
-Về án phí : Căn cứ khoản 4, Điều 147 BLTTDS năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Kpă H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Rơ Ô H1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa, bà Kpă H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. HĐXX chỉ căn cứ vào kết quả của việc xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để quyết định. Các đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và về chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã I, tỉnh Gia Lai vào ngày 02/5/2013. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không cùng chung chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Theo lời khai của bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 đều công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và đã bỏ nhau theo phong tục người Jrai được 4 – 5 năm, mỗi người đều có cuộc sống mới riêng. Ông H1 không đồng ý ly hôn vì lý do trước đây khi ông yêu cầu giải quyết ly hôn theo pháp luật thì bà Kpă H không đồng ý vì muốn gây khó khăn với ông chứ ông không có nguyện vọng để vợ chồng về đoàn tụ.
Xác minh tại nơi cư trú của ông Rơ Ô H1 thì được biết: Ông Rơ Ô H1 và bà Kpă H đã bỏ nhau theo phong tục người Jrai từ năm 2021 – 2022, một thời gian sau ông H1 có cuộc sống riêng (sống chung vợ chồng với người phụ nữ khác). Các con chung đều do bà Kpă H nuôi dưỡng.
Từ các đánh giá nêu trên thì thấy cuộc sống chung của bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 đã mâu thuẫn thời gian dài, không còn sự quan tâm chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Trên thực tế thì bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 đã có cuộc sống riêng với người khác từ sau khi bỏ nhau theo phong tục người Jrai. Do đó, xác định cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và bà Kpă H yêu cầu được ly hôn với ông Rơ Ô H1 là phù hợp với các quy định của pháp luật.
[4] Về con chung: Bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 có 02 con chung là Kpă H2, sinh ngày 15/7/2009 và Kpă T, sinh ngày 07/6/2011.
Nguyện vọng của bà Kpă H là được trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục cả 02 con chung. Đây là sự tự nguyện của đương sự phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.
[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu.
[7] Về án phí: Bà Kpă H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Kpă H được ly hôn với ông Rơ Ô H1.
- Về con: Bà Kpă H và ông Rơ Ô H1 có 02 con chung là Kpă H2, sinh ngày 15/7/2009 và Kpă T, sinh ngày 07/6/2011.
Giao 02 con chung cho bà Kpă H là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ ngày 21/8/2026 cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn các bên được quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu các bên lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
- Về tài sản và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu.
Trong trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 và Điều 36 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.
-Về án phí: Bà Kpă H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005412 ngày 27/5/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Gia Lai. Bà Kpă H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV TAND T.Gia Lai; - VKSND khu vực 12; - THADS T.Gia Lai; - UBND xã I, Gia Lai; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Hữu Công Trường – Ksor H’Quá | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị D THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |