- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp HDV tài sản giữa Ngân hàng P - Võ Kim Đ"
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/DS-ST Ngày 20 - 6 - 2025 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Nguyễn Huỳnh Anh.
2. Bà Lâm Thị Ngọc Huyền.
- Thư ký phiên toà: Ông Võ Thanh Tòng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã thụ lý số: 136/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Ph
Địa chỉ: số .. Nguyễn T, Phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc Th – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thiện H, Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đồng Tháp. Địa chỉ: Tổ 4, xã M, phường M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện cho ông H : Ông Đặng Thái L, chức vụ : Chuyên viên QHKHCN- Chi nhánh Đồng Tháp. Địa chỉ : số 02/1, ấp L, xã L, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Võ Kim Đ, sinh năm 1988 ; (vắng mặt)
Bà Lê Thị Cẩm Th, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 48, ấp An L, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị C, sinh năm 1952; (vắng mặt)
2. Cháu Võ Quốc D, sinh năm 2011; (vắng mặt)
3. Cháu Võ Minh D, sinh năm 2016 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: số 48, ấp A, xã Đ, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng TMCP Ph (đại diện theo ủy quyền ông Đặng Thái L) trình bày:
Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Đồng Tháp đã cho ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 148/24CNĐT/HĐTD ngày 10/07/2024; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/KUNN01 ngày 12/07/2024 cho ông Đồng, bà Thật vay số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 12,1%/năm; Lãi suất cho vay được quy định cụ thể trên giấy Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/KUNN01 ngày 12/07/2024. Mục đích sử dụng vốn: Cho vay nông nghiệp – Bổ sung vốn nuôi cá sặc rằn và trồng xoài.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 46, tờ bản đồ số 13 tại xã Đ, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 279987, số vào sổ cấp GCN: CS09950 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 21/07/2020. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ nhưng ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng, Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng. Tính đến ngày 11/02/2025, tổng số tiền ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th còn nợ Ngân hàng là 507.086.985 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 500.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 22.759.201 đồng; Lãi quá hạn: 201.488 đồng. Tổng cộng: 522.960.689 đồng. Tháng 5/2025, ông Đ có trả cho Ngân hàng tiền gốc là 10.000.000 đồng còn nợ lại gốc 490.000.000 đồng và lãi. Nhận thấy ông Đ và bà Th do đã vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng tiến hành khởi kiện thu hồi nợ đối với ông Đ và bà Th.
Nay Ngân hàng TMCP P khởi kiện và yêu cầu buộc ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/06/2025 là 519.551.140 đồng. Trong đó nợ gốc là 490.000.000 đồng và nợ lãi là 29.551.140 đồng. Ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th phải thanh toán nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 148/24CNĐT/HĐTD ngày 10/7/2024 ; Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/KUNN01 ngày 12/7/2024 đã ký với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Công nhận Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 84/24/CNĐT/HĐBĐ ngày 10/7/2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P với ông Võ Kim Đ.
. Trường hợp ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ. Nếu số tiền phát mãi không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đồng và bà Th có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ
- Bị đơn ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị C, Võ Quốc D, Võ Minh D vắng mặt: Theo biên bản ghi lời khai ngày 15/5/2025 của bà C (mẹ ông Đ, bà Th) trình bày bà thừa nhận vợ chồng ông Đ, bà Th có vay tại Ngân hàng TMCP P số tiền 500.000.000 đồng; để đảm bảo khoản vay thì vợ chồng ông Đ, bà Th có thế chấp quyền sử dụng đất số 46, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc xã Đ, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp do ông Đ đứng tên quyền sử dụng đất; ông Đ, bà Th vay tiền mục đích sử dụng vốn vay là đi ghe cát chở thuê nhưng do làm ăn thất bại nên chưa trả Ngân hàng được. Trường hợp các con của bà là ông Đ, bà Th không trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ và tiến hành thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P là ông Đặng Thái L chấp hành đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th, Võ Quốc D, Võ Minh D chưa chấp hành theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th, địa chỉ: số 48, ấp A, xã Đ, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Lộc có mặt, bị đơn ông Đ, bà Th và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà C, cháu D, cháu D vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P là anh L yêu cầu ông Võ Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm Th trả nợ gốc, lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 148/24CNĐT/HĐTD ngày 10 tháng 7 năm 2024 ; Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/KUNN01 ngày 12 tháng 7 năm 2024 và tiền lãi tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 519.551.140 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 490.000.000 đồng, Nợ lãi: 29.551.140 đồng. Ngoài ra, ông Đ, bà Th còn phải chịu các khoản lãi, phí phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 10/7/2024 và Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 12/7/2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P với ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th cho đến khi thanh toán hết nợ vay.
Công nhận Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 84/24/CNĐT/HĐBĐ ngày 10/7/2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P với ông Võ Kim Đ. Trường hợp ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ. Nếu số tiền phát mãi không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ
. Xét Hợp đồng tín dụng hạn mức số 148/24CNĐT/HĐTD ngày 10/7/2024 và Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/ KUNN01 ngày 12/7/2024, ông Đ, bà T là người ký tên vay và đã ký nhận đủ số tiền vay 500.000.000 đồng, việc ký kết hợp đồng, giao nhận tiền trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 119 Bộ luật dân sự và phù hợp với Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng là phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ theo thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng hạn mức, khế uôcws nhận nợ và quá trình thực hiện Hợp đồng thì ông Đ, bà Th có trả vốn cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng. Sau đó, ông Đ, bà Th không trả gốc và lãi cho Ngân hàng là vi phạm Điều 2, của Hợp đồng tín dụng hạn mức. Do đó, đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp yêu cầu ông Đ, bà Th trả tiền vay còn nợ vốn 490.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 29.551.140 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 519.551.140 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng hạn mức và Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 84/24CNĐT/HĐBĐ ngày 10/7/2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp với ông Võ Kim Đ; theo Hợp đồng thế chấp thì ông Đ đã thế chấp tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX279987, số vào sổ cấp giấy GCN CS09950, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp cho ông Võ Kim Đ ngày 21/7/2020, thuộc thửa 46, tờ bản đồ số 29, diện tích 312,8m2, mục đích sử dụng đất ở 200,0m2, đất trồng cây lâu năm 112,8m2; đất tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp do ông Võ Kim Đ đứng tên quyền sử dụng đất. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 84/24CNĐT/HĐBĐ ngày 10/7/2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp đã được Văn phòng công chứng B, tỉnh Đồng Tháp chứng thực, đồng thời tài sản thế chấp quyền sử dụng đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L là phù hợp quy định tại Điều 317, Điều 319, Điều 323 Bộ luật dân sự. Do đó, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp với ông Võ Kim Đ có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/4/2025; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa thửa 46, tờ bản đồ số 13, diện tích 312,8m2, mục đích sử dụng đất ở 200,0m2, đất trồng cây lâu năm 112,8m2; đất tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do ông Võ Kim Đ quản lý sử dụng; trên đất có căn nhà cấp 4 và cây trồng trên đất và có bà Ngô Thị C, cháu Võ Quốc D, cháu Võ Minh D sinh sống trên đất. Tuy nhiên, bà C, cháu D, cháu D không có văn bản trình bày ý kiến hay phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 84/24CN ĐT/HĐBĐ ngày 10/7/2024 quy định: “….. Đến hạn trả nợ, kể cả trường hợp HDBank thu hồi nợ trước hạn theo hợp đồng này/Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm mà bên vay/Bên được cấp tín dụng và/ hoặc Bên thế chấp không thực hiện đúng/ đủ cam kết……”. Do đó, trường hợp ông Đ, bà Th không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo những nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 84/24CNĐT/HĐBĐ ngày 10/7/2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P – Chi nhánh Đồng Tháp với ông Võ Kim Đ để thu hồi nợ.
. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp nộp tạm ứng số tiền 1.000.000 đồng và đã chi xong nên buộc ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng.
. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Buộc ông Đ, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 và 273, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 317, Điều 319, Điều 323 của Bộ luật dân sự; Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P yêu cầu ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th trả tiền vay còn nợ vốn 490.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 29.551.140 đồng. Tổng cộng 519.551.140 đồng, tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 148/24CNDT/ HDTD ngày 10/7/2024 và Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/KUNN01 ngày 12 tháng 7 năm 2024.
2. Buộc ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P số tiền vay còn nợ vốn 490.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 29.551.140 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi 519.551.140 đồng (Năm trăm mười chín triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn, một trăm bốn mươi đồng).
3. Số tiền trên sẽ được tiếp tục tính lãi, phát sinh theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 148/24CNDT/HĐTD ngày 10/7/2024 và Đề nghị giải Ngân kiêm khế ước nhận nợ số 148/24CNĐT/HĐTD/KUNN01 ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp với ông Võ Kim Đ và bà Lê Thị Cẩm Th cho đến khi trả xong.
Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 84/24CNĐT/HĐBĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp với ông Võ Kim Đ là hợp pháp.
Trường hợp ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp đảm bảo cho số tiền vay (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 84/24CNĐT/HĐBĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024) để thu hồi nợ.
Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu còn thừa thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P phải trả lại cho bên thế chấp.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh Đồng Tháp số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th phải nộp 24.782.046 đồng (Hai mươi bốn triệu, bảy trăm tám mươi hai nghìn, không trăm bốn mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần P được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp 12.142.000 đồng (Mười hai triệu, một trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo lai thu số 0005618 ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.
6. Quyền kháng cáo: Đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn ông Võ Kim Đ, bà Lê Thị Cẩm Th và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị C, Võ Quốc D, Võ Minh D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lấp Vò; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - CCTHA dân sự huyện Lấp Vò; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP (T). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mân |