vanban.org

Bản án 66/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Trọng N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Trọng N. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,6656 (không phẩy sáu nghìn sáu trăm năm mươi sáu) gam ma túy, loại Methamphetamin quản lý của Đào Trọng N … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Trọng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HS-ST
Ngày 27 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Oanh

Bà Phạm Thị Láng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 27/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 11/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 12/6/2025 đối với bị cáo:

Đào Trọng N, sinh ngày 24/6/1994 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; CCCD số 034094000550; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Đào Xuân T và bà Nguyễn Thị M; đã ly hôn với chị Lý Thị Thu H và có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Từ năm 2012 đến năm 2014, tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh, sau đó xuất ngũ.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/3/2025, đến ngày 11/3/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thái Bình, Công an tỉnh T.(Có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1967.

2. Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1979.

Đều cư trú tại địa chỉ: thôn P, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(ông L và anh Đ đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/3/2025, tại khu vực cầu D, thuộc địa phận thôn P, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình, Đào Trọng N bị tổ công tác Phòng PC04 Công an tỉnh T phát hiện có nghi vấn liên quan đến ma túy, yêu cầu kiểm tra. N đã tự nguyện lấy từ trong túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc 02 túi nilon trong suốt được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt giao nộp cho Cơ quan Công an và khai nhận đó là ma túy đá, N mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa N và mời 02 người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật và tiến hành trưng cầu giám định vật chứng của vụ án theo quy định pháp luật.

Bản kết luận giám định số 223/KL-KTHS ngày 11/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,7595 gam (Không phẩy bảy nghìn năm trăm chín mươi lăm gam) Methamphetamin STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

Về nguồn gốc số ma tuý bị quản lý, N khai mua vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/3/2025 của một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không quen biết tại khu vực cầu T thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình với giá 500.000 đồng. Người đàn ông đưa cho N 02 túi nilon trong suốt được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt, là ma túy đá. N cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi áo khoác bên phải phía trước N đang mặc trên người rồi tiếp tục đi nhờ xe của một người không quen biết về nhà, khi về đến thôn P, xã X thì bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma tuý đã mua.

Cáo trạng số 64/CT-VKSVT ngày 10/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố Đào Trọng N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Trọng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Trọng N từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong số 223/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh T. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/3/2025, tại khu V thuộc địa phận thôn P, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình, Đào Trọng N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7595 gam ma túy, loại Methamphetamin, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Đào Trọng N là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý, biết rõ việc Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Đào Trọng N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo Đào Trọng N không có tài sản, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

Về người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Trọng N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Trọng N.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,6656 (không phẩy sáu nghìn sáu trăm năm mươi sáu) gam ma túy, loại Methamphetamin quản lý của Đào Trọng N hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 223/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T. (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu nhập kho đề ngày 13/6/2025).

4. Về án phí: Bị cáo Đào Trọng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Trọng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/6/2025).

Cỡ chữ