- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội cố ý gây thương tích và bắt người trái pháp luật - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngư…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Bắt người trái pháp luật”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày: 03-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Công
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Liêm
Ông Nguyễn Quốc Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Hoàng Tân - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 02, 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 và Thông báo hoãn phiên tòa số: 24/TB-TA ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1974, tại Khánh Hoà. Nơi cư trú: Tổ dân phố GP, phường BN, tỉnh Khánh Hoà. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 0/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn Đơn (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kia (đã chết). Vợ: Trần Thị Mười, S năm: 1974. Con: có 02 con, lớn S năm 1997, nhỏ S năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Văn Sơn - Văn phòng Luật sư Văn Sơn thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phần tranh tụng, vắng mặt tại phần tuyên án)
- Bị hại: Huỳnh Văn C, sinh năm: 1966. Nơi cư trú: Tổ dân phố GP, phường BN, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Mười, sinh năm: 1974. Nơi cư trú: Tổ dân phố GP, phường BN, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
- Người làm chứng:
+ Huỳnh Văn Lãnh, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Tổ dân phố GP, phường BN, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
+ Huỳnh Thị Hải, sinh năm: 1994. Nơi cư trú: Tổ dân phố ST, phường BN, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
+ Đỗ Văn Thanh, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Tổ dân phố ST, phường BN, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 22/4/2023, Nguyễn Văn S và Huỳnh Văn C xảy ra kình cãi về việc S dựng hàng rào lưới B40 trên lối đi chung. Ông C cho rằng hàng rào lưới B40 mà S dựng lên lấn sang đường đi chung làm cho đường đi bị hẹp nên yêu cầu S tháo dỡ. Tuy nhiên, S cho rằng hàng rào này được dựng trên đất của ông S nên S không tháo dỡ theo yêu cầu của C.
Ông C thấy S không thực hiện việc tháo dỡ hàng rào nên dùng tay rung lắc hàng rào làm bể vỡ 04 trụ bê tông. Thấy vậy, S dùng tay đánh vào mặt ông C rồi cả hai ôm, vật nhau xuống dưới ruộng lúa gần đó. Lúc này, S nhặt lấy 01 hung khí (có hình trụ tròn, cứng, thẳng, giống thanh sắt và nhặt ở khu vực ranh giới giữa bờ ruộng và ruộng lúa) rồi dùng hung khí này đánh nhiều cái trúng cẳng tay, khuỷa tay trái, vùng vai trái của ông C gây thương tích, làm ông C ngã sấp xuống ruộng. S tiếp tục ngồi lên người ông C dùng chân ghì đè lên người ông C rồi lấy sợi dây thừng (tại hàng rào của S) và dùng dây cột, trói hai tay của ông C ra phía sau và tiếp tục cột, trói hai cổ chân của ông C. Sau khi cột, trói ông C thì S kéo lê ông C trong tư thế nằm sấp trên đất ruộng khô và trên đường đất đến vị trí hàng rào làm vùng mặt, ngực, bụng, gối, cẳng chân của ông C bị thương tích. S tiếp tục trói, cột ông C vào trụ rào và tiếp tục dùng hung khí đánh vào chân của ông C làm ông C bất tỉnh rồi bỏ đi.
Trong quá trình diễn ra sự việc S đánh ông C thì Huỳnh Văn Lãnh, Huỳnh Thị Hải (đều là con ông C) và Đỗ Văn Thanh (là con rể ông C) nghe thông tin ông C bị đánh nên đi đến khu vực này. Khi đến nơi, anh Lãnh, chị Hải, anh Thanh thấy ông C nằm bất động, hai tay bị trói về phía sau, hai chân bị trói, cột vào hàng rào lưới B40 và trên người có nhiều vết thương nên cởi trói cho ông C. Lúc này, bà Trần Thị Mười (vợ của S) đi đến thì chị Hải dùng tay đánh vào mặt bà Mười.
Theo S khai nhận mục đích trói ông C vào hàng rào là để trình báo Công an nhưng trên đường đi thì nhìn thấy các con ông C đang đi về hướng trang trại của mình nên S sợ và lẩn tránh. Đến ngày 24/4/2023, S đến Công an xã Cam Phước Đông để làm việc.
Ngày 24/4/2023, Huỳnh Văn C có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 27/4/2023, Trần Thị Mười có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
* Về thương tích của ông Huỳnh Văn C:
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 497/23/KLTTCT-PYKH ngày 20/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vùng cẳng tay trái có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%;
- Vùng khuỷu tay trái có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%;
- Vùng ngực phải thay đổi sắc tố da, tỷ lệ thương tật: 0,5%;
- Vùng ngực trái thay đổi sắc tố da, tỷ lệ thương tật: 0,5%;
- Vùng bụng phải thay đổi sắc tố da, tỷ lệ thương tật: 0,5%;
- Vùng bụng trái thay đổi sắc tố da, tỷ lệ thương tật: 0,5%;
- Vùng cẳng chân phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%;
- Vùng cổ chân phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%;
- Vùng gối phải sây sát da hiện tại đã hết, tỷ lệ thương tật: 0%.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Văn C tại thời điểm giám định là 06%. Kết luận khác: Vật gây ra: Vật tày; các vết thương không nguy hiểm đến tính mạng.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 810/23/KLTTCT-PYKH ngày 02/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tại thời điểm giám định vết bầm vùng vai trái đã hết, tỷ lệ thương tật: 0%; không có cơ sở kết luận tác nhân và cơ chế hình thành thương tích.
Tại Công văn số 153/TTPY-KGĐ ngày 19/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa thể hiện: Tại thời điểm giám định các tổn thương tại vùng mặt của ông Huỳnh Văn C không còn nên không có cơ sở để đánh giá tỷ lệ tổn thương cơ thể.
* Về thương tích của bà Trần Thị Mười: Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 499/23/KLTTCT-PYKH ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tại thời điểm giám định vết bầm vùng vai trái đã hết, tỷ lệ thương tật: 0%; không có cơ sở kết luận tác nhân và cơ chế hình thành thương tích.
Tại Kết luận định giá tài sản số 133/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 04 trụ bê tông trên bị bể vỡ, thiệt hại 400.000 đồng.
Tại biên bản xác minh ngày 03/11/2023, Ủy ban nhân dân xã Cam Phước Đông xác định 04 trụ rào mà S dựng lên nằm ngoài diện tích đất của S được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với Huỳnh Văn C có hành vi làm bể vỡ 04 trụ rào của Nguyễn Văn S gây thiệt hại 400.000 đồng. Tuy nhiên, C là người chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị kết án về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Đối với Huỳnh Thị Hải có hành vi dùng tay đánh vào mặt Trần Thị Mười gây thương tích 0% là không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 14/3/2024, Công an thành phố Cam Ranh đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPHC đối với Huỳnh Thị Hải vì đã có hành vi gây thương tích cho bà Trần Thị Mười, xử phạt 6.500.000 đồng.
Đối với Huỳnh Văn C khai nhận: Trần Thị Mười có hành vi đưa thanh sắt cho Nguyễn Văn S để S đánh C gây thương tích. Tuy nhiên, chỉ có lời khai duy nhất của C; còn S, Mười không thừa nhận về nội dung này; đồng thời đã tiến hành đối chất và không có tài liệu nào khác đủ cơ sở để chứng minh bà Mười đưa thanh sắt cho S đánh C. Vì vậy, không đủ căn cứ để tuy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Mười.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-HS ngày 30/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa đã truy tố bị cáo S về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và “Bắt người trái pháp luật” quy định tại khoản1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về điều khoản như trên của bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 157 và điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, gồm chi phí khám chữa bệnh 20.000.000 đồng và chi phí thuê người chăn nuôi vịt 90 ngày mỗi ngày 500.000 đồng là 45.000.000 đồng; bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng và không đồng ý bồi thường thêm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Luật sư nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Khánh Hòa. Tuy nhiên, bị cáo và bị hại có mâu thuẫn từ trước, cách đây 9-10 năm bị hại đã đánh bà Trần Thị Mười rụng 04 cái răng, bị hại xô đẩy, rung lắc nhiều trụ bê tông lưới B40 nên trụ bê tông lưới B40 mới gãy đổ, do đó bị cáo bức xúc đánh bị hại. Trong vụ án này bị hại có một phần lỗi. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã bồi thường cho bị cáo 30.000.000 đồng, nếu Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại thì bị cáo sẽ bồi thường.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo ăn năn hối hận vì đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Nguyễn Văn S và bị hại Huỳnh Văn C có mâu thuẫn nhưng cả hai đều xác định vào khoảng 18 giờ ngày 22/4/2023, tại khu vực tổ dân phố Trà Sơn, phường BN, tỉnh Khánh Hòa; Nguyễn Văn S chỉ vì có mâu thuẫn với Huỳnh Văn C về việc sử dụng lối đi chung (mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống) mà S dùng tay, chân, hung khí nguy hiểm (có hình trụ tròn, cứng, thẳng, giống thanh sắt) gây thương tích cho ông C, dùng dây thừng cột, trói kéo lê ông C trên đất ruộng, đường đất gây thương tích cho ông C với tỉ lệ thương tật là 6% và cột ông C vào trụ rào, tại thời điểm này, ông C không phải là người bị bắt theo các trường hợp bắt người theo quy định pháp luật. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (“a) Dùng…. hung khí nguy hiểm….;”, “i) Có tính chất côn đồ;”) và “Bắt người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng, bảo vệ về sức khỏe và bất khả xâm phạm về thân thể của con người; bị cáo tước đoạt sự tự do dịch chuyển thân thể của người khác là xâm phạm thân thể và quyền tự do của người khác là những khách thể quan trọng được Luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Khi bị cáo S dùng hung khí đánh nhiều cái vào cơ thể bị hại C làm bị hại ngã sấp xuống ruộng, bị cáo lại tiếp tục ngồi lên người ông C dùng chân ghì đè lên người ông C rồi lấy sợi dây thừng cột, trói hai tay của ông C ra phía sau, cột, trói hai cổ chân của ông C rồi kéo lê ông C trong tư thế nằm sấp trên đất ruộng khô và trên đường đất đến vị trí hàng rào làm vùng mặt, ngực, bụng, gối, cẳng chân của ông C bị thương tích. Hành vi này của bị cáo thể hiện bị cáo “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, trở thành công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự:
]3.1] Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 65.000.000 đồng gồm chi phí khám chữa bệnh 20.000.000 đồng và chi phí thuê người chăn nuôi vịt 90 ngày mỗi ngày 500.000 đồng là 45.000.000 đồng. Ngày 25/9/2025, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng nên bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường 35.000.000 đồng, bị cáo không đồng ý.
Xét thấy: Ngày 22/4/2023, bị hại ông C vào viện Bệnh viện đa khoa khu vực Cam Ranh cấp cứu với tình trạng chấn thương ngực+ bụng+ đa thương phần mềm, ngày 23/4/2023 ông C ra viện (trường hợp gia đình xin cho bệnh nhân xuất viện). Ngày 23/4/2023, ông C vào viện Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, ra viện ngày 28/4/2023 với tình trạng ổn định, hẹn tái khám sau 07 ngày. Bị hại ông C đã cung cấp các hóa đơn chứng từ từ ngày 22/4/2023 đến ngày 05/5/2023 (ngày tái khám) với tổng số tiền là 2.370.613 đồng. Tại phiên tòa, ông C cung cấp 01 giấy xác nhận với nội dung ông C thuê ông Nguyễn Văn Ngà chăn vịt trong thời gian 90 ngày (do ông C bị ông S đánh), một ngày 500.000 đồng và khai nhận trước khi xảy ra sự việc đánh nhau thì tình trạng sức khỏe của ông C hoàn toàn ổn định, bình thường. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của ông C là 2.370.613 đồng, thu nhập bị mất từ ngày 22/4/2023 đến ngày 05/5/2023 (14 ngày), một ngày 500.000 đồng của ông C là 7.000.000 đồng. Do đó, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe 20.000.000 đồng và thu nhập thực tế bị mất 45.000.000 đồng là không có cơ sở, không phù hợp với Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bị hại về việc yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe số tiền 35.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mười không yêu cầu bị hại Huỳnh Văn C phải bồi thường 400.000 đồng do ông C có hành vi làm bể vỡ 04 trụ rào bị cáo S. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án: 01 (một) thanh sắt tròn, rỗng, màu xám, có chiều dài 55,2cm, đường kính 03cm, độ dày 0,5mm là vật chứng không có giá trị và 01 (một) sợi dây thừng đường kính 0,9cm, dài 5,4m là công cụ phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí:
Bị cáo S phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị hại ông C được miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe không được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Bắt người trái pháp luật”.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 293 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 09 (chín) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu của bị hại Huỳnh Văn C về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S phải tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại số tiền 35.000.000 đồng.
2.2. Bị cáo Nguyễn Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mười không yêu cầu bị hại Huỳnh Văn C bồi thường 400.000 đồng do ông C có hành vi làm bể vỡ 04 trụ rào. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thanh sắt tròn, rỗng, màu xám, có chiều dài 55,2cm, đường kính 03cm, độ dày 0,5mm và 01 (một) sợi dây thừng đường kính 0,9cm, dài 5,4m. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhân vật chứng, tài sản ngày 28/3/2024 giữa Cơ quan C sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh)
4. Về án phí:
4.1. Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4.2. Bị hại Huỳnh Văn C được miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe không được Tòa án chấp nhận.
5. Bị cáo Nguyễn Văn S, bị hại Huỳnh Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mười có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa; - Phân trại tạm giam khu vực Cam Ranh, thuộc Trại Tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 2- Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - Công an phường Cam Ranh; - Bị cáo; - Bị hại. - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |