vanban.org

Bản án 66/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 06/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huy L, bị cáo Nguyễn Phú Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Phạm Huy L 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/12/2024. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú Q 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Huy L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huy L, bị cáo Nguyễn Phú Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HS-ST
Ngày: 06-8-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lương;

Ông Đường Phan Hiếu;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lương Tuấn Giang - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXX-HS ngày 07 tháng 7 năm 2025; Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 22 ngày 21/7/2025, đối với các bị cáo:

1. Phạm Huy L, sinh ngày 13/8/1991; Đăng ký thường trú: Khu tập thể T, khu phố T, phường P (trước là phường C, thành phố T), tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng 1 số 72 phường B (trước là phường N, quận Long Biên), Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Ngọc S, Con bà: Nguyễn Thị Hòa A; Vợ: Trịnh Thị T; Có 02 con (sinh năm 2017, 2022); Tiền án, tiền sự: Không; Lý lịch thể hiện: Năm 2017, Công an huyện H xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 08/12/2011, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Quyết định tạm giữ ngày 31/12/2024; Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Phú Q, sinh ngày 11/6/1999; Đăng ký thường trú: Số 76 phường H (trước là phường H, quận Hoàn Kiếm), Hà Nội; Chỗ ở: phường B (trước là phường N, quận Long Biên), Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Minh S, Con bà: Phạm Thị Bích T; Tiền án, tiền sự: Không; Lý lịch thể hiện: Năm 2017 Công an quận Ba Đình xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định tạm giữ ngày 31/12/2024; Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- 1 -

Theo Bản cáo trạng số 179 ngày 13/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, tổ công tác Công an phường P, quận Đống Đa nay là phường K đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Phú Q đang ngồi trên xe máy Honda Wave biển kiểm soát: 29C1 - 60747 dừng đỗ trước ngõ 4 quận Đống Đa, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, công an đã thu giữ tại thùng hàng để trước xe máy của Q: 03 hộp carton kích thước mỗi hộp 15x10x10cm bên trong mỗi hộp đều có 01 túi nilong kích thước 11x07 cm đều chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, Q khai nhận đó là ma túy Cần sa nhận được từ Phạm Huy L đang mang đi giao cho khách. Tổ công tác đã niêm phong tang vật và đưa Q về trụ sở làm việc.

Tại bản Kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:

"- Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong (ký hiệu M1) là cần sa, khối lượng 4,737 gam.

- Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong (ký hiệu M2) là Cần sa, khối lượng: 4,971 gam.

- Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong (ký hiệu M3) là Cần sa, khối lượng: 4,716 gam."

Cùng ngày, Phạm Huy L đã đến cơ quan công an đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 túi bạc kích thước khoảng 40x30cm bên trong chứa thảo mộc khô, 01 túi nilon trắng kích thước 30x20cm bên trong chứa thảo mộc khô, 01 bình nhựa hình trụ tròn kích thước 25x15cm bên trong chứa thảo mộc khô, 01 cân điện tử, 10 túi zip trắng kích thước 10x8cm, 20 vỏ bìa cattong kích thước 25x20cm.

Tại bản Kết luận giám định số 335/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

"- Thảo mộc khô bên trong 01 túi màu bạc kích thước 40x30cm, 01 túi nilong màu trắng kích thước 30x20cm và 01 bình nhựa hình trụ tròn kích thước 25x15 cm đều là Cần sa, tổng khối lượng: 1284,592 gam.

- 01 cân điện tử có dính Cần sa."

Tại Cơ quan điều tra:

Phạm Huy L khai nhận: Khoảng đầu tháng 10/2024, L được một tài khoản Telegram tên "Núi A" liên hệ để làm cộng tác viên bán ma tuý cần sa. Nhiệm vụ của L là nhận ma túy từ "Núi A" sau đó đóng gói và giao cho khách theo chỉ đạo của "Núi A", mỗi đơn hàng L sẽ được nhận tiền công từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng, L đồng ý. Chiều ngày 28/12/2024, tại nhà trọ phường N, quận Long Biên, Hà Nội, L đã nhận được ma túy cần sa của "Núi A" từ một người giao hàng rồi đem về phòng trọ tại Phòng 1 số 72 Long B 1 cất giấu. Ngày 30/12/2024, L nhận được chỉ đạo từ "Núi A" đóng 05 gói hàng ma túy cần sa giao cho khách với thông tin như sau: 01 đơn ghi "Huy 09492xxxxx, số 18 ngõ 4 Phương M"; 01 đơn ghi "Nam béo, 03282xxxxx, trường tiểu học Thuỷ Đ, xã T, thị xã T, Hải Phòng"; 01 đơn ghi "Dương 09670xxxxx, đường L, phố H, Hà Nội"; 01 đơn ghi "03863xxxxx đạt, Siêu

- 2 -

thị land chi, C, Chương Mỹ, Hà Nội"; 01 đơn ghi "về toà Hemisco khu đô thị X, Hà Đông".

Phạm Huy L, Nguyễn Phú Q khai nhận: Khoảng tháng 11/2024, L và Q quen nhau do Q đã vài lần mua ma túy cần sa của L. L và Q thống nhất: Q là người nhận ma túy từ L và đi giao cho khách theo yêu cầu của L, Q sẽ được nhận trực tiếp tiền công giao hàng từ khách và được L trả thêm từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng mỗi đơn hàng.

Chiều ngày 30/12/2024, sau khi đóng gói và ghi đơn xong, L liên hệ với Q rồi giao 05 đơn hàng ma túy cần sa để Q đi giao cho khách, Q nhận thức rõ 05 đơn hàng đi giao cho khách là ma túy loại cần sa. Q đã giao thành công ma tuý cho khách tại huyện C, Hà Nội và tòa Hemisco khu đô thị X, Hà Đông. Khi Q đang đứng chờ khách mua hàng tại số 18 ngõ 4 PM thì bị cơ quan công an phát hiện, kiểm tra, bắt quả tang.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo L khai nhận: Khoảng cuối tháng 10/2024, L đã đồng ý làm cộng tác viên bán ma tuý cần sa cho một tài khoản Telegram tên "Núi A" với giá 100.000 đồng đến 150.000 đồng/01 đơn hàng. Sau đó, L liên hệ thuê Nguyễn Phú Q làm người giao hàng ma tuý cho mình, Q sẽ được nhận tiền công giao hàng từ khách và nhận thêm 10.000 đồng đến 20.000 đồng/01 đơn hàng từ L. Ngày 30/12/2024, dưới sự chỉ đạo của "Núi Anh" L đã đóng gói 05 đơn hàng ma túy cần sa và giao cho Nguyễn Phú Q để đi giao cho khách. Sau khi biết Q bị bắt, L đã chủ động đầu thú và giao nộp ma túy cho cơ quan công an. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Phạm Huy L là 1299,016 gam Cần sa, mục đích bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo không tranh luận, không bào chữa, đề nghị HĐXX khoan hồng cho bị cáo sớm có cơ hội về nuôi dạy con nhỏ.

- Bị cáo Q khai nhận: Ngày 30/12/2024, khi L điện thoại, Q đã đến gặp và nhận từ L 05 hộp carton bên trong đều chứa thảo mộc khô để đi giao cho khách theo đơn. Q đã giao thành công được 02 đơn hàng ma túy, khi đang đứng đợi để giao ma túy cho khách tại số 18 ngõ 4 phường P, Đống Đa, Hà Nội thì Q bị tố công tác Công an phường P kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Phú Q là 14,424 gam Cần sa, mục đích bán để hưởng lời. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo không tranh luận, đề nghị HĐXX xem xét bố mẹ bị cáo tuổi cao, sức khỏe kém để khoan hồng cho bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa sai lầm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Nội tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, (thêm khoản 2 đối với bị cáo L) Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Huy L mức hình phạt từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Nguyễn Phú Q

- 3 -

mức hình phạt từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; Tịch thu sung công 03 điện thoại di động và xe máy thu giữ của bị cáo Q; Truy thu số tiền thu lời bất chính của bị cáo L là 10 triệu đồng, bị cáo Q là 150.000 đồng.

Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.

Xét hành vi của các bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện, lời khai của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng đầu tháng 10/2024, L được một tài khoản Telegram tên "Núi A" liên hệ để làm cộng tác viên bán ma tuý cần sa. Nhiệm vụ của L là nhận ma túy từ "Núi A" sau đó đóng gói và giao cho khách theo chỉ đạo của "Núi A", mỗi đơn hàng L sẽ được nhận tiền công từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng, L đồng ý. Chiều ngày 28/12/2024, tại nhà trọ số 72 ngõ 27 phường N, quận Long Biên, Hà Nội, L đã nhận được ma túy cần sa của "Núi A" từ một người giao hàng rồi đem về phòng trọ tại Phòng 1 số 72 ngõ 27 Long B 1 cất giấu. Từ ngày bán ma túy thuê, L được đối tượng tên "Núi A" trả công khoảng 10.000.000 đồng.

Khoảng tháng 11/2024, L và Q thống nhất: Q là người nhận ma túy từ L và đi giao cho khách theo yêu cầu của L, Q sẽ được nhận trực tiếp tiền công giao hàng từ khách và được L trả thêm từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng mỗi đơn hàng. Chiều ngày 30/12/2024, sau khi nhận 05 đơn hàng ma túy cần sa từ L để Q đi giao cho khách, Q đã giao thành công ma tuý cho khách tại C,huyện C, Hà Nội và tòa Hemisco khu đô thị X, Hà Đông. Khi Q đang đứng chờ khách mua hàng tại số 18 ngõ 4 PM thì bị cơ quan công an bắt quả tang. Số tiền L trả công giao hàng cho Q là 150.000 đồng.

Tổng khối lượng ma túy công an thu giữ của Phạm Huy L mục đích để bán là 1299,016 gam Cần sa. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Phú Q đã giúp Phạm Huy L bán là 14,424 gam Cần sa.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo:

- 4 -

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng, làm gia tăng các loại tội phạm khác trong xã hội, ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của con người, cũng như gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng như gia tăng tệ nạn ma túy, bạo lực và tội phạm liên quan.

Vụ án có tính chất đồng phạm trong đó bị cáo L là chủ mưu, vai trò chính, trực tiếp cung cấp ma túy, đóng gói lên đơn hàng để Q đi giao; Bị cáo Q với vai trò giúp sức đi giao ma túy cho khách mua, mục đích để hưởng lợi; các bị cáo đều đã từng bị xử lý về hành vi liên quan đến ma túy; tuy tiền án của bị cáo L và tiền sự của các bị cáo đều đã xóa nhưng thể hiện các bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi, mức độ gây nguy hại cho xã hội của từng bị cáo để giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục và góp phần đấu tranh chống tội phạm.

Tuy nhiên xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo L đầu thú, nên áp dụng điểm s khoản 1, (thêm khoản 2 đối với bị cáo L) Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Hình phạt bổ sung: Cần tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh thu giữ L;

Đối với bị cáo Q không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng "Núi A" và người giao ma túy cho L, do L khai không biết họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý, đối với anh Nguyễn Mạnh H, anh Đỗ Văn Đ, anh Lê Văn H, anh Lê Hoàng N, anh Đinh Hoàng D Cơ quan điều tra không đủ căn cứ khởi tố, Viện kiểm sát không truy tố nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với số điện thoại 094929xxxx, qua điều tra xác định chủ thuê bao là anh Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1985, trú tại: tổ 2, ấp T, Thuận P, Đồng P, Bình Phước). Tại cơ quan điều tra, anh H khai không đăng ký và không sử dụng số điện thoại trên. Hiện tài liệu thu thập được không đủ căn cứ xác định anh H có liên quan đến hành vi phạm tội của L và Q nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 03863xxxxx, qua điều tra xác định chủ thuê bao là anh Đỗ Văn Đ (sinh năm 2002, trú tại: thôn T, xã T ,huyện C, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh Đ khai không sử dụng số điện thoại trên. Hiện tài liệu thu thập được không đủ căn cứ xác định anh Đ có liên quan đến hành vi phạm tội của L và Q nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 03359xxxxx, qua điều tra xác định chủ thuê bao là anh Lê Văn H (sinh năm 1980, trú tại: L, huyện T, Thanh Hoá). Tại cơ quan điều tra, anh H khai không đăng ký, không sử dụng số điện thoại trên. Hiện tài liệu thu thập được không đủ căn cứ xác định anh H có liên quan đến hành vi phạm tội của L và Q nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

- 5 -

Đối với số điện thoại 03282xxxxx, qua điều tra xác định chủ thuê bao là Lê Hoàng N (sinh năm 2000, trú tại: thôn A, An L, Thủy N, Hải Phòng). Tại cơ quan điều tra, Nam khai ngày 30/12/2024 có liên hệ với một người trên mạng xã hội để mua 05 gam cần sa với giá 1.000.000 đồng nhưng không nhận được cần sa nên chưa chuyển tiền cho người này. Sau đó, N cũng không có nhu câu sử dụng ma tuý nữa. Tuy N là người đã đặt mua ma túy nhưng N chưa nhận được ma tuý, kết quả xét nghiệm ma túy đối với N là âm tính nên cơ quan điều tra không xử lý N là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 09670xxxxx, qua điều tra xác định chủ thuê bao là Đinh Hoàng D (sinh năm 2001, trú tại: 9P21 Tương M, Hoàng M, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, D khai ngày 30/12/2024 có liên hệ với một người trên mạng xã hội để mua 05 gam cần sa với giá 1.000.000 đồng nhưng không nhận được cần sa nên chưa chuyển tiền cho người này. Sau đó. D cũng không có nhu cầu sử dụng ma tuý nữa. Tuy D là người đã đặt mua ma tuy nhưng D chưa nhận được ma tuý, kết quả xét nghiệm ma túy đối với D là âm tính nên cơ quan điều tra không xử lý D là có căn cứ.

- Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo: Là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A52 màu xanh thu giữ của L; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu tím và 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển kiểm soát: 29C1 - 60747 thu giữ của Q: Xét thấy, có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

- Cần truy thu số tiền do phạm tội mà có của bị cáo L là 10.000.000 đồng; Của bị cáo Q là 150.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

* Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huy L, bị cáo Nguyễn Phú Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Căn cứ: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Huy L 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/12/2024.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú Q 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/12/2024.

- Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có chữ ký của cán bộ Công an Trần Anh V - Công an, Giám định viên Nguyễn Thị T, người chứng kiến Đỗ Xuân T và bị cáo Nguyễn Phú Q;

- 6 -

- Tịch thu tiêu hủy 01 thùng niêm phong có chữ ký của cán bộ Công an phường Nguyễn Toàn T, Giám định viên Nguyễn Thị T, người chứng kiến Nguyễn Thị H và bị cáo Phạm Huy L.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại kiểu dáng Samsung màu xanh; 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 12 Promax màu xanh; 01 điện thoại kiểu dáng Redmi màu tím; 01 xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29C1-607.47.

Số vật chứng trên hiện lưu giữ tại kho của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội, tình trạng như Bản kê vật chứng số 141 ngày 13/6/2025 kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số 141 ngày 13/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Nội; Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Hà Nội và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Thành phố Hà Nội có trách nhiệm phối hợp để giao, nhận, xử lý vật chứng trên theo quy định của pháp luật.

- Buộc bị cáo Phạm Huy L truy nộp số tiền 10.000.000 đồng; Buộc bị cáo Nguyễn Phú Q truy nộp số tiền 150.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ