vanban.org

Bản án 66/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 05/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng pháp luật:

2/ Tuyên bố: Bị cáo Phù Quốc T (D) phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt Phù Quốc T (D): 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án về tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng pháp luật:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 66/2025/HS-ST
Ngày: 05/05/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Rạng Đông 2. Bà Nguyễn Tƣờng Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 05 năm 2025 tại Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 77/2025/HSST ngày 08 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa ra xét xử số 69/2025/2024/QĐXXST-HS ngày 16/4/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phù Quốc T, sinh năm 1985– Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: D

Nơi sinh: P, Kiên Giang

Căn cước công dân: 091085021961 cấp ngày 06/6/2022

Nơi đăng ký thường trú: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Tổ G, ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán.

Cha: Phù Quốc V, sinh năm 1961 (chết).

Mẹ: Trần Thị N1, sinh năm 1968 (sống).

Anh, chị em ruột: Có 02 người (lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1989)

Vợ: Lê Thị Yến N2, sinh năm 1990

Con: 03 người (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021).

Tiền sự: Không

Tiền án: Đã được xóa án tích. Vào năm 2007 bị Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là Toà án thành phố P) xử phạt 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” đã chấp hành xong hình phạt.

Tạm giữ, tạm giam: Không

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trƣơng Văn T1, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ E, ấp R, xã H, Tp. P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 15/5/2024, Phù Quốc T đi nhậu và về nhà tại ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì nhớ lại chuyện 03 ngày trước có hai người lạ mặt đến nhà T hỏi mua ma túy và họ nói do anh Trương Văn T1 kêu đến mua nên T bực tức lấy một cây dao kim loại màu đen dài khoảng 20cm, lưỡi dao có một cạnh sắc và một cạnh răng cưa (dao hai lưỡi), mũi dao nhọn của nhà T mua dùng gọt trái cây. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1-039.12 màu xanh của em ruột tên Phù Quốc B đã cho T mượn trước đó. Khi T điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường D thuộc ấp R, xã H, thành phố P thì nhìn thấy anh T1 đang điều khiển xe mô tô chạy ngược chiều với T nên T nói anh T1 dừng lại nói chuyện. Khi anh T1 dừng lại thì T dùng tay phải rút dao trong túi quần ra đâm anh T1 một nhát, anh T1 dùng tay trái đỡ thì bị lưỡi dao đâm trúng vào cánh tay trái của anh T1 gây thương tích. Sau khi bị đâm anh T1 bỏ xe mô tô chạy về hướng cầu H và chạy vào một con hẻm nên T cầm dao rượt theo một đoạn khoảng 20 mét thì không rượt kịp nên cầm dao đi lại xe mô tô của T. Anh Nguyễn Văn S nhìn thấy T đang cầm dao trên tay nên giật lấy cây dao ném bỏ xuống sông C, H. Lúc này anh T1 từ trong hẻm đi ra, T tiếp tục rượt anh T1, anh T1 bỏ chạy, được mọi người can ngăn nên T bỏ về, anh T1 được đưa đến Trung tâm y tế thành phố P cấp cứu, điều trị thương tích.

Ngày 24/7/2024, Phù Quốc T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Tại Bản kết luận giám định pháp y: Số 452/KLTTCT-PY ngày 08/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K kết luận thương tích của anh Trương Văn T1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương vùng cẳng tay trái, gây đứt thần kinh gian cốt sau và gân cơ duỗi các ngón đã được phẫu thuật khâu nối thần kinh và cơ duỗi các ngón. Hiện tại tổn thương hoàn toàn thần kinh gian cốt sau gây hạn chế chức năng vận động cẳng tay và cổ tay trái.

- Tổn thương hoàn toàn dây thần kinh gian cốt sau bên trái (nhánh của dây thần kinh quay).

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 17%.

Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.

Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 81/CT-VKSPQ ngày 24 tháng 03 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Phù Quốc T (D) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên toà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phù Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 do bị cáo dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ quy định tại điểm a, i , khoản 1 Điều 134 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phù Quốc T (D) từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường 43.000.000 đồng. Tại phiên toà bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tang vật không thu giữ được nên không đề nghị tịch thu.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phù Quốc T (D) thừa nhận hành vi gây thương tích cho anh Trương Văn T1 là sai và vi phạm pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phù Quốc T (D) thừa nhận sau khi đi nhậu về đến nhà, bị cáo nhớ lại chuyện có 02 người thanh niên lạ mặt tới nhà hỏi mua ma túy và họ nói do anh T1 chỉ, trong khi nhà bị cáo không bán ma túy nên bị cáo bực tức và cầm cây dao nhọn màu đen loại dao 02 lưỡi chạy xe mô tô đi tìm anh T1 để nói chuyện, khi chạy xe đến cầu D thì bị cáo gặp anh T1 chạy xe ngược chiều nên đã kêu anh T1 dừng lại, sau đó bị cáo lấy dao trong người ra đâm ngay và trúng vào tay của anh T1 gây thương tích là 17%, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, vật gây thương tích cho anh T1 là cây dao sắc nhọn, đây là hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS. Thương tích của anh T1 do một mình bị cáo là người trực tiếp gây ra. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cũng như lời khai của người bị hại nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Phù Quốc T (D) đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, do bị cáo phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS nên bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp, điều luật có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được việc xâm phạm sức khoẻ của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ, bị cáo gặp anh T1 chưa hỏi rõ nguyên nhân mà đã dùng cây dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh T1 17% cho thấy hành vi của bị cáo xem thường pháp luật, xem thường sức khoẻ của người khác, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 43.000.000 đồng; tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm; gia đình bị cáo có ông N3 là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 43.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

. Về tang vật: Cây dao gây án của bị cáo đã bị người khác ném xuống sông C và không tìm được tang vật nên không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng pháp luật:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

2/ Tuyên bố: Bị cáo Phù Quốc T (D) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Phù Quốc T (D): 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án.

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ