vanban.org

Bản án 66/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa bà Nguyễn Thị Mỹ D với ông Đào Phong D1 về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Đào Phong D1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0025539… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu ly hôn với ông Đào Phong D1"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa bà Nguyễn Thị Mỹ D với ông Đào Phong D1 về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 9 năm 2025
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Hiệp và ông Nguyễn Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 266/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1975;

Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Nay là Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai).

- Bị đơn: Ông Đào Phong D1, sinh năm 1973;

Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Nay là Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai).

Nơi cư trú hiện nay: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp I, xã T, tỉnh Đồng Nai).

(Bà D có đơn xin vắng mặt; ông D1 vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại phiên tòa nguyên đơn xin vắng mặt tuy nhiên tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

Bà và ông Đào Phong D1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau từ năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 48/2014 quyển số 01/2024 ngày 19/6/2014.

Ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách ngày càng khác biệt nên thường xuyên gây gổ, cãi vã lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần nhưng vì con vợ chồng bà đã nhiều lần hàn gắn tình cảm gia đình. Nhưng gần đây mâu thuẫn vợ chồng càng ngày trầm trọng, không thể hàn gắn được với nhau. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2025 cho đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không còn nên bà D yêu cầu ly hôn với ông D1.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đào Quang D2, sinh ngày 19/02/2000 và Đào Nguyễn Hương D3, sinh ngày 27/10/2005. Hiện hai con chung đã đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà D tự nguyện chịu án phí theo quy định pháp luật.

- Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đào Phong D1 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà D, cũng không đến Tòa án làm việc, không đến tham gia phiên tòa nên không có lời trình bày đối với yêu cầu của bà D.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Đồng Nai phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được thông báo, triệu tập nhiều lần nên việc Tòa án căn cứ Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ D là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D về việc được ly hôn với ông Đào Phong D1; về con chung các con chung đã thành niên có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về nợ chung đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng nên không xem xét giải quyết. Bà D phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1. Bà Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai) giải quyết ly hôn với ông Đào Phong D1, vì vậy quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Bị đơn là ông Đào Phong D1 có nơi đăng ký thường trú tổ A, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai và nơi cư trú hiện nay: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp I, xã T, tỉnh Đồng Nai). Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai).

1.3. Sau khi thụ lý, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ “giấy triệu tập”, “thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” nhưng ông D1 không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp. Do ông D1 đã được thông báo, triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành hòa giải được. Đồng thời, tiếp tục tống đạt cho ông D1 bằng thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng gồm: “Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”, “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, “Quyết định hoãn phiên tòa”, “Giấy triệu tập” theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Về phía bà D đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2]. Về nội dung tranh chấp:

2.1. Ông D1, bà D tự nguyện chung sống với nhau, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa ông, bà là hôn nhân hợp pháp.

2.2. Như đã phân tích mục 1.3 nêu trên, ông D1 không lên Tòa án tham gia giải quyết vụ án, cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

2.3. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Căn cứ tài liệu, ý kiến của bà D thể hiện vợ chồng ông, bà chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà D cương quyết ly hôn với ông D1 vì bà không còn tình cảm với ông D1. Ông, bà hiện nay không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2025 đến nay, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức phiên họp, hòa giải để đoàn tụ nhưng ông D1 không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải với bà D, qua đó thể hiện ông D1 không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Xét thấy ông D1, bà D không có sự yêu thương, tôn trọng; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông D1 được chấp nhận.

2.4. Về con chung: Có 02 con chung tên Đào Quang D2, sinh ngày 19/02/2000 và Đào Nguyễn Hương D3, sinh ngày 27/10/2005. Hiện hai con chung đã đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.5. Về nợ chung và tài sản chung: Bà D khai không có nợ chung, không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của ông D1, bà D trong vụ án này.

[3]. Về án phí ly hôn: Bà D khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp.

[4]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

Điều 51, 53, 56, 57, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa bà Nguyễn Thị Mỹ D với ông Đào Phong D1 về việc “Ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Đào Phong D1.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0025539 ngày 06/06/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu (Nay là thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai). Bà D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án này theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ