vanban.org

Bản án 66/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Dương Thị M và ông Đinh Công D.

Về nuôi con chung: Bà Dương Thị M và ông Đinh Công D có 03 người con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh ngày 08-9-2015; Giao con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Dương Thị M và ông Đinh Công D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Dương Thị M và ông Đinh Công D.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2025
“V/v Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Phi.

2. Ông Bùi Huy Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 525/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị M, sinh ngày 15-7-1987; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 25-4-2021.

Địa chỉ: Tổ A, thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là ấp S, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bị đơn: Ông Đinh Công D, sinh ngày 01-01-1982; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 03-5-2023.

Địa chỉ: Tổ A, thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là ấp S, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh).

(Bà M, ông D vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị M, trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 05 tháng, bà M và ông Đinh Công D mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 06-7-2009 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, ông D thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn để phụ giúp bà M nuôi dạy con cái. Mỗi lần uống rượu say ông D còn hành hung bà M và các con. Từ tháng 12-2023, bà M quyết định dẫn theo 03 người con chung ra ngoài mướn phòng trọ để sống cho đến nay. Trong thời gian này, vợ chồng cũng không tìm cách gắn tình cảm.

Nay, bà M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng bà M, ông D có 03 người con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh ngày 08-9-2015.

Bà M có nguyện vọng nuôi dưỡng 03 người con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện bà M làm công nhân tại Công ty nón ở Khu Công nghiệp C, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)/01 tháng.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Đinh Công D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao 03 người con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh ngày 08-9-2015 cho bà M được quyền nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Bà M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Bà Dương Thị M và ông Đinh Công D sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay bà M yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của ông D là xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh) thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Bà Dương Thị M vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Đinh Công D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà M và ông D trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06-7-2009 tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo bà Mai S khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, ông D thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Từ tháng 12-2023, bà M và ông D ly thân cho đến nay. Trong thời gian này, vợ chồng cũng không tìm cách gắn tình cảm.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà M và ông D để hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng ông D không đến còn bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Ngoài ra, theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa bà M và ông D là có thật.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà M và ông D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà M được ly hôn với ông D.

. Về nuôi con chung: Bà M và ông D có 03 người con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh ngày 08-9-2015.

Xét thấy, từ khi bà M và ông D ly thân thì 03 người con chung do bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện 03 người con chung đều đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống với bà M. Xét về quyền lợi mọi mặt của con cần áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao 03 người con chung cho bà M được quyền nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

. Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bà M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Dương Thị M và ông Đinh Công D.

2. Về nuôi con chung: Bà Dương Thị M và ông Đinh Công D có 03 người con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh ngày 08-9-2015;

Giao con chung Đinh Thị Mai T, sinh ngày 23-8-2009, Đinh Thị Trúc L, sinh ngày 21-01-2011 và Đinh Hiếu T1, sinh ngày 08-9-2015 cho bà Dương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị M không yêu cầu ông Đinh Công D cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đinh Công D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Dương Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Dương Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức (Nay là Thi hành án Dân sự Thành phố H) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001771 ngày 24 tháng 12 năm 2025; bà Dương Thị M đã nộp xong án phí DSST.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ