vanban.org

Bản án 66/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bệnh tật, không có con

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng dân sự;

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim N đối với bị đơn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bệnh tật, không có con — án hôn nhân và gia đình — "N - T"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14-3-2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

ông Nguyễn Văn Hồng;

bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 804/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11

năm 2024 về “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị Kim N, sinh năm 2002; nơi cư trú: số 116, tổ

03, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: anh Bùi Minh T, sinh năm 2002; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C,

tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2024, lời khai trong quá trình giải quyết

vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Kim N trình bày, chị N chung sống với anh T, có

đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã L cấp chứng nhận kết hôn theo giấy chứng

nhận kết hôn số 30 ngày đăng ký 21/02/2023. Quá trình chung sống, vợ chồng

không có con chung.

Khoảng đầu năm 2024, anh T vô cớ đánh đập chị N khiến cho chị N bị

bầm tím. Nghĩ tình nghĩa vợ chồng nên chị N không trình báo chính quyền địa

phương. Tuy cha mẹ chồng có biết việc anh T đánh chị N nhưng cha mẹ cũng

không can thiệp, cho rằng tự vợ chồng tự giải quyết với nhau. Trước hoàn cảnh

đó, chị N bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng chính thức sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 9/2024 đến nay. Vì vậy. chị N yêu cầu ly hôn anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Ý kiến tại phiên của chị N: giữ nguyên yêu cầu ly hôn do không thể hàn

gắn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy

đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56

Luật Hôn nhân và gia đình: chấp nhận khởi kiện của chị N về yêu cầu ly hôn với anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:

Chị N có đơn khởi kiện đối với anh T về yêu cầu ly hôn. Anh T có nơi

cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị N có mặt; anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị N và anh T là vợ chồng hợp pháp, được nhà nước tôn trọng và

pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, theo lời khai của chị N, lời khai của bà Nguyễn Thị D do Tòa án thu thập cho thấy, quá trình chung sống, anh T có hành vi vô cớ đánh chị N dẫn đến tình trạng vợ chồng sống ly thân từ tháng 09 năm 2024 đến nay. Mặt khác, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải tình cảm vợ chồng nhưng anh T không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như đã bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Như vậy, anh T có hành vi bạo lực gia đình với chị N làm cho vợ

chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau, không có tình nghĩa vợ chồng với nhau được xem như hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N yêu cầu ly hôn anh T là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án chấp nhận khởi kiện của chị N về yêu cầu ly hôn anh T.

Chị N xác định không có con chung, không yêu cầu giải quyết về tài

sản nên Tòa án không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí sơ thẩm: chị N phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch

theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 24,

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ

luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim N đối với bị đơn

anh Bùi Minh T;

Chị Lê Thị Kim N được ly hôn với anh Bùi Minh T.

2. Về án phí sơ thẩm: chị Lê Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng án phí

dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo

biên lai số 0023727 ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự

huyện Chợ Mới.

3. Chị N có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được

tính từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15

ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành

án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ