- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Trần thị Thanh h và Quàng văn Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thanh H được ly hôn anh Quàng Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HNGĐ- ST Ngày: 22-5-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Thiệp
2. Bà Lý Thị Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện TC, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Quàng Văn Đ, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện TC, tỉnh Sơn La.
Anh Đạt hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh H và anh Quàng Văn Đ kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 20/6/2016, tại Ủy ban nhân dân xã Mường É, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống luôn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đạt nghiện ma túy, chị Hoa và gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh Đạt không nghe, anh Đạt đã đi cai nghiện ba lần, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Quàng Văn Đ đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Chị Trần Thị Thanh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Quàng Văn Đ.
Về con chung: Chị Trần Thị Thanh H và anh Quàng Văn Đ có 02 (hai) con chung là cháu Quàng Mai L, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Quàng Trần Gia H, sinh ngày 05/10/2014. Hiện tại cháu Quàng Mai L và cháu Quàng Trần Gia H đang ở với chị Trần Thị Thanh H.
Chị Trần Thị Thanh H là giáo viên, có nơi cư trú ổn định, có thu nhập. Chị Trần Thị Thanh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Quàng Mai L và cháu Quàng Trần Gia H.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu anh Quàng Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh H cam đoan không có nợ chung.
Trong bản tự khai, bị đơn anh Quàng Văn Đ trình bày (Có xác nhận của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La):
Về hôn nhân: Anh Quàng Văn Đ và chị Trần Thị Thanh H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mường É, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến 02 năm gần đây có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đạt nghiện ma túy và đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Anh Quàng Văn Đ xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh Quàng Văn Đ và chị Trần Thị Thanh H có 02 (hai) con chung là cháu Quàng Mai L, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Quàng Trần Gia H, sinh ngày 05/10/2014. Anh Quàng Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Quàng Văn Đ khai không yêu cầu gì.
Nguyên đơn không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do Tòa án thu thập và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Quàng Mai L và cháu Quàng Trần Gia H đều có nguyện vọng là ở với mẹ.
Chị Trần Thị Thanh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Hoa giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Anh Quàng Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Đạt giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
V quan h h n nhân: Xử cho chị Trần Thị Thanh H được ly hôn anh Quàng Văn Đ.
V con chung: Giao cháu Quàng Mai L, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Quàng Trần Gia H, sinh ngày 05/10/2014 cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
V cấp dưỡng nu i con: Anh Quàng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu).
V tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
V tài sản riêng: Không có.
V nợ chung: Chị Trần Thị Thanh H, anh Quàng Văn Đ không có nợ chung.
V án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Quàng Văn Đ có địa chỉ tại bản Cại Kéo, xã Mường É, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H, bị đơn anh Quàng Văn Đ: Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H, bị đơn anh Quàng Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh H và anh Quàng Văn Đ kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 20/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Mường É, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn luôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Đạt nghiện ma túy, chị Hoa và gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh Đạt không nghe, anh Đạt đã đi cai nghiện ba lần, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Quàng Văn Đ đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Chị Hoa cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Quàng Văn Đ. Anh Quàng Văn Đ không nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoa và anh Đạt trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Trần Thị Thanh H được ly hôn anh Quàng Văn Đ. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Trần Thị Thanh H và anh Quàng Văn Đ có 02 (hai) con chung là Quàng Mai L, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Quàng Trần Gia H, sinh ngày 05/10/2014. Hiện tại cháu Quàng Mai L và cháu Quàng Trần Gia H đang ở với chị Trần Thị Thanh H. Chị Trần Thị Thanh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Quàng Mai L và cháu Quàng Trần Gia H. Chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu anh Quàng Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Quàng Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu thu thập của Toà án: Chị Trần Thị Thanh H là giáo viên, có thu nhập ổn định, có nơi cư trú rõ ràng. Anh Quàng Văn Đ không có công việc, không có thu nhập (anh Đạt đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy).
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền, lợi ích của con, sự phát triển về thể chất, cần giao cháu Quàng Mai L, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Quàng Trần Gia H, sinh ngày 05/10/2014 cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Hoa không yêu cầu, anh Đạt không có khả năng cấp dưỡng).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh H, anh Quàng Văn Đ không có nợ chung.
Về án phí: Chị Trần Thị Thanh H có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Trần Thị Thanh H là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thanh H được ly hôn anh Quàng Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Quàng Mai L, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Quàng Trần Gia H, sinh ngày 05/10/2014 cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu).
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về tài sản riêng: Không có.
5. Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh H và anh Quàng Văn Đ không có nợ chung.
6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H.
7. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thanh H, anh Quàng Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - UBND xã Mường É, huyện TC; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |