- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/DS - ST Ngày: 25 - 8 - 2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Thới
2. Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Đoàn Tấn Tài - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025, về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST - DS ngày 09 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam
- Người đại diện theo pháp luật: ZY – Chức danh: Tổng giám đốc
Địa chỉ: Lô II KCN HP, ấp TH, xã PQ, tỉnh Vĩnh Long
Địa chỉ cũ: Lô II KCN HP, ấp TH, xã HP, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc Yn, sinh năm 2002, trú tại: ấp Tân PA, xã TB, Thành Phố CT (theo giấy ủy quyền số 07/2025/UQ ngày 13/5/2025). (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Văn G, sinh năm 1986. (vắng mặt)
Trú tại: ấp NT, phường KH, Thành Phố Cần Thơ
Địa chỉ cũ: ấp NT, xã HĐ, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 17/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam (gọi tắt là Công ty Y) và anh Trần Văn G có ký hợp đồng đại lý số 19/2023/YHVN/HĐĐL ngày 30/01/2023, về việc mua bán các loại thức ăn thủy sản hiệu Y do Công ty Y sản xuất, anh Trần Văn G mua thức ăn của Công ty Y về để nuôi tôm, cá chẽm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh G có thanh toán tiền thức ăn nhưng không đầy đủ. Đến ngày 26/7/2023 các bên có đối chiếu xác nhận công nợ là anh Trần Văn G còn nợ số tiền là 347.300.000đ. Kể từ khi đối chiếu nợ đến nay thì anh G vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ mặc dù phía Công ty Y nhiều lần yêu cầu anh G thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2025 Công ty Y yêu cầu anh Trần Văn G trả số nợ gốc là 347.296.000đ và tiền lãi tính đến ngày khởi kiện là 53.542.624đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa Công ty Y yêu cầu anh Trần Văn G trả số tiền mua thức ăn còn nợ là 347.296.000đ và tiền lãi với lãi suất 0,027%/ngày tính từ ngày 27/7/2023 đến ngày 25/8/2025 là 760 ngày (347.296.000đ x 0,027%/ngày x 760 ngày = 71.265.000đ), tổng cộng gốc và lãi là 418.561.000đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi chậm trả 0,83%/tháng trên số tiền nợ gốc kể từ ngày 26/8/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ.
* Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 05/5/2025 anh Trần Văn G khai như sau:
Anh Trần Văn G có mua thức ăn và còn nợ nguyên đơn tiền gốc là 347.296.000đ và tiền lãi tính đến ngày 17/02/2025 là 53.542.624đ, tổng cộng gốc và lãi là 400.838.624đ. Anh G đồng ý trả nợ cho nguyên đơn nhưng yêu cầu nguyên đơn tạo điều kiện cho anh có thời gian trả nợ.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
- Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71,72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 92, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam. Buộc anh Trần Văn G phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam tổng số tiền 418.561.000đồng (trong đó tiền gốc là 347.296.000đồng, tiền lãi là 71.265.000đồng.
- Về án phí: Buộc anh Trần Văn G phải chịu 20.742.000đồng tiền án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản. Theo hợp đồng đại lý 19/2023/YHVN/HĐĐL ngày 30/01/2023 giữa Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam và anh Trần Văn G thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi có trụ sở của Công ty Y. Công ty Y có trụ sở tại khu công nghiệp Hòa Phú, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Phú Quới, tỉnh Vĩnh Long) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn G đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh G.
Về nội dung vụ án:
Xét, yêu cầu khởi kiện của Công ty Y kiện đòi anh Trần Văn G trả số tiền mua thức ăn còn nợ 347.296.000đ và tiền lãi với mức lãi suất 0,027%/ngày tính từ ngày 27/7/2023 đến ngày 25/8/2025 là 71.265.000đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi chậm trả 0.83%/tháng tính từ ngày 26/8/2025 cho đến khi anh G thanh toán xong nợ là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ:
Công ty Y và anh Trần Văn G có ký hợp đồng đại lý số 19/2023/YHVN/HĐĐL ngày 30/01/2023, về việc mua bán các loại thức ăn hiệu Y do Công ty Y sản xuất. Ngày 26/7/2023 các bên có đối chiếu xác nhận công nợ là anh Trần Văn G còn nợ số tiền là 347.300.000đ, hai bên thỏa thuận trường hợp anh G không trả nợ thì phải chịu lãi suất chậm trả là 0,067%/ngày. Công ty Y chỉ yêu cầu anh G trả tiền mua thức ăn còn nợ là 347.296.000đ và tiền lãi với mức lãi suất 0,027%/ngày. Anh Trần Văn G cũng thừa nhận và đồng ý trả số tiền còn nợ là 347.296.000đ và tiền lãi với lãi suất 0,027%/ngày theo yêu cầu của Công ty Y, đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự; phía Công ty Y yêu cầu anh G trả tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 26/8/2025 cho đến khi anh G thanh toán xong nợ cho Công ty Y với mức lãi suất 0.83%/tháng là có lợi cho anh G. Do đó Hội đồng xét xử buộc anh Trần Văn G trả cho Công ty Y số tiền mua hàng còn nợ là 347.296.000đ; tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 25/8/2025 là 71.265.000đ (347.296.000đ x 0,027%/ngày x 760 ngày = 71.265.000đ); Buộc anh G tiếp tục trả mức lãi suất chậm trả 0,83%/tháng trên số nợ gốc kể từ ngày 26/8/2025 cho đến khi thanh toán xong.
Xét, yêu cầu của anh G yêu cầu Công ty Y tạo điều kiện cho anh có thời gian trả nợ là không có cơ sở chấp nhận vì Công ty Y không đồng ý, theo quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên mua hàng phải trả tiền hàng theo quy định trong hợp đồng.
Về án phí: Buộc anh Trần Văn G phải chịu 20.742.000đ tiền án phí DSST.
Xét, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam
Buộc anh Trần Văn G có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam số tiền gốc còn nợ 347.296.000đ và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/8/2025 là 71.265.000đ, tổng cộng gốc và lãi là 418.561.000đ (bốn trăm mười tám triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Buộc anh Trần Văn G có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi suất theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính trên số nợ gốc kể từ ngày 26/8/2025 cho đến khi anh Trần Văn G thanh toán xong tiền nợ cho Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam.
2. Về án phí:
Buộc anh Trần Văn G phải chịu 20.742.000đ (hai mươi triệu, bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000đ (mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002034 ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (Nay là Phòng thi hành án Dân sự khu vực 1-Vĩnh Long).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty TNHH thức ăn Y Việt Nam được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn G được quyền kháng cáo bản trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND khu vực 1- Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 1-Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ngọc Tú |