vanban.org

Bản án 66/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 21/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 01 (một) năm 09 (chín) thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Tuấn H tội trộm cắp, cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST
Ngày 21/5/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG - TỈNH HƢNG YÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Miện.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thắm

Ông Lê Quốc Thiêm

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/TLST-HS ngày 08/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024 đối với:

* Bị cáo: Ngô Tuấn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983 tại huyện S, thành phố Hà Nội; HKTT: Thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ngô Văn C và bà Vũ Thị T; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1987; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 3 năm 4 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không có; Nhân thân: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); Ngày 23/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, thành phố Hà Nội khởi tố về tội Trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản.

H đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H theo Lệnh tạm giam số 38/LTG-TAGL ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội.

(Có mặt)

* Bị hại: Bà Hồ Thị Vân Đ, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Nam L, sinh năm: 2000 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Tuấn H, sinh năm 1983, HKTT: Thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Do không có tiền tiêu sài, H đã nảy sinh ý định đi đến địa bàn huyện V, tỉnh Hưng Yên tìm các xe ô tô đỗ nhưng không có người trông coi để đập cửa kính, lấy tài sản trong xe ô tô. Khoảng 18 giờ ngày 30/12/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 29S6 - 293.25 từ thành phố Hà Nội đến huyện V. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, H đi đến vòng xuyến thị trấn V thì nhìn thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Volvo màu xanh, biển số 89A - 322.66 của anh Nguyễn Nam L, sinh năm 2000, HKTT: Thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên, đang đỗ trên vỉa hè, trước cửa Trung tâm tiêm chủng VNVC. Chiếc xe này, anh L đã giao cho mẹ là bà Hồ Thị Vân Đ (có cùng HKTT với anh L) quản lý, sử dụng. Quan sát thấy không có người trông coi, H điều khiển xe mô tô đến đỗ ở phía sau bên trái chiếc xe ô tô biển số 89A - 322.66, dùng đèn pin soi qua cửa kính bên ghế lái nhìn vào bên trong xe thì thấy 01 chiếc túi xách nữ màu đen để trên ghế phụ. H đi bộ sang cửa ghế phụ, dùng tô vít 4 cạnh bằng kim loại, dài khoảng 20cm, có chuôi bằng nhựa màu vàng đen chọc liên tiếp 2 cái vào cửa kính, làm cho cửa kính bị nứt, vỡ. Sau đó cất tô vít vào túi áo khoác đang mặc và đi xung quanh xe để quan sát xem có ai phát hiện hay không. Thấy không bị ai phát hiện, H dùng khuỷu tay và bàn tay đẩy phần cửa kính đã bị nứt vỡ rơi vào phía bên trong xe, rồi dùng tay phải thò vào trong ghế phụ lấy chiếc túi xách nữ màu đen. Sau khi lấy được túi xách, H điều khiển xe mô tô nói trên đi theo đường 379 về hướng thành phố Hà Nội. Đi đến đoạn đường vắng, H dừng xe lại, mở túi xách ra kiểm tra và lấy được số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng) gồm các tờ tiền có mệnh giá 500.000đ, 200.000đ, 100.000đ, 50.000đ, 20.000đ, 10.000đ và 5.000đ. Sau đó, H điều khiển xe mô tô quay lại vị trí xe ô tô biển số 89A - 322.66 và để lại chiếc túi xách vào ghế phụ của xe ô tô rồi đi về thành phố Hà Nội. Số tiền lấy được là 9.000.000 đồng, H đã tiêu sài cá nhân hết.

Cùng ngày 30/12/2023, bà Hồ Thị Vân Đ, gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V về việc bị kẻ gian đập phá cửa kính xe ô tô, lấy mất số tiền 15.000.000 đồng và 01 sạc pin điện thoại nhãn hiệu Iphone trị giá 500.000 đồng để trong xe ô tô biển số 89A - 322.66.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, vào ngày 11/01/2024 H còn thực hiện các hành vi Trộm cắp tài sản và Cố ý làm hư hỏng tài sản tại địa bàn các xã: K, D, huyện G, thành phố Hà Nội nên đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, H đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên tại huyện V, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trao đổi để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 15/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V Yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá để xác định thiệt hại đối với 01 kính chắn gió bên ghế phụ xe ô tô nhãn hiệu Volvo, biển số 89A - 322.66 và chiếc sạc pin điện thoại nhãn hiệu Iphone. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/BKL-ĐGTS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: 01 sạc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có giá trị 200.000đ; 01 kính chắn gió bên ghế phụ của xe ô tô nhãn hiệu Volvo biển số 89A - 322.66 có giá trị thiệt hại là 13.200.000đ. Tổng cộng: 13.400.000đồng.

Quá trình điều tra vụ án, bà Đ xác định bị mất trộm số tiền 9.000.000 đồng, không bị mất sạc pin điện thoại. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Volvo màu xanh, biển số 89A-322.66 là tài sản của anh Nguyễn Nam L. Ngày 01/3/2024 anh L ủy quyền cho bà Đ tham gia tố tụng cho đến khi giải quyết xong vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đ yêu cầu bị cáo phải hoàn trả bà số tiền 9.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại số tiền 13.200.000 đồng. Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô biển số 29S6-293.25 và 01 tô vít bằng kim loại có chuôi bằng nhựa đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, thành phố Hà Nội thu giữ và quản lý tại Kho vật chứng Công an huyện G. Đối với chiếc đèn pin, H khai đã sử dụng để soi tài sản trong xe ô tô của bà Đ, H đã làm rơi không rõ vị trí cụ thể, nên Cơ quan điều tra Công an huyện V không có căn cứ rà soát, truy tìm.

Quá trình điều tra, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSVG ngày 08/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Ngô Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Ngày 16/5/2024, bà Đ đã giao nộp cho Tòa án 01 đơn đề nghị xét xử vắng mặt, 01 đơn đề nghị trong đó nêu bà đã nhận 22.200.000 đồng gia đình bị cáo Ngô Tuấn H bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo H như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành bản án này.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tam gia tố tụng khác không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật.

- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 30/12/2023, tại vỉa hè phía trước Trung tâm tiêm chủng VNVC - thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Ngô Tuấn H đã dùng tô vít và tay đập vỡ kính chắn gió cửa trước bên phải (cửa phụ) của xe ô tô nhãn hiệu Volvo màu xanh, biển số 89A-322.66 là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Hồ Thị Vân Đ, gây thiệt hại 13.200.000 đồng và lén lút chiếm đoạt của bà Đ số tiền 9.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lười lao động lại muốn có tiền sử dụng nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo diễn ra ngang nhiên giữa nơi có đông người qua lại, điều đó chứng tỏ thái độ coi thường pháp luật của bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 3 năm 4 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đến nay chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tác động gia đình mình bồi thường giá trị tài sản chiếm đoạt cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ là ông Ngô Văn C1 và mẹ đẻ là bà Vũ Thị T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản” và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”.

. Về hình phạt chính: HĐXX thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt tù nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, nay lại chiếm đoạt tài sản và làm hư hỏng tài sản của người khác nên cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”.

- Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Điều 38; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự.

- Khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136; điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

3. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành bản án này.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Tuấn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ